Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 349/2023/HS-ST

Ngày 25-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố D, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 348/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Tuấn P, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số D, đường T, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Đức C (đã chết) và bà Võ Thị Kim C1, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

2/ Đoàn Tuấn K, sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đoàn Tuấn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; có 01 anh ruột, sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

3/ Nguyễn Thế B (tên gọi khác: B1), sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số D, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1975 và bà Đoàn Thanh S, sinh năm 1979; có 01 em ruột, sinh năm 2009; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam giữ, tạm giam ngày 10/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1/ Bùi Hoàng L1, sinh năm 1997. Vắng mặt.

2/ Vương Văn T, sinh năm 2000. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1994. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, Nguyễn Tuấn P sử dụng điện thoại gọi qua ứng dụng M cho Đoàn Tuấn K, để rủ K sử dụng ma túy. P và K thống nhất mua 02 viên thuốc lắc và 01 túi Ketamine, tiền mua ma tuý do P ứng trước, sau khi sử dụng xong sẽ chia đều cho 02 người. Sau đó, P dùng điện thoại (thông qua ứng dụng M1) nhắn tin cho Nguyễn Thế B để nhờ B mua hộ 01 túi ma túy khay và 02 viên thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng và rủ B cùng sử dụng ma tuý với P và K. Do trong tài khoản của B không đủ tiền nên B nói P chuyển tiền qua tài khoản cho B thì B mới đặt mua ma túy được. P dùng ứng dụng tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần T1 (T2) số tài khoản 88882862686 trên điện thoại của P để chuyển qua tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M3) số tài khoản 7777777739792 của B hai lần với số tiền 450.000 đồng. Sau đó, B đến nhà P và chở P đến khu vực chợ D2. Tại đây, P nhờ anh Bùi Hoàng L1 chuyển từ tài khoản Ngân hàng của anh L1 đến tài khoản của B số tiền 2.000.000 đồng. Do tài khoản Ngân hàng không còn tiền, anh L1 nhờ anh Vương Văn T chuyển 2.000.000 đồng qua tài khoản của B. Sau khi chuyển tiền xong, P đưa cho anh T 2.000.000 đồng. P không nói cho anh L1 và anh T biết P chuyển tiền để mua ma tuý. Khi B và P về nhà P thì P đưa thêm cho B tiền mặt 550.000 đồng để đủ số tiền mua ma túy.

Sau khi nhận đủ tiền từ P, B liên hệ qua Z với người có tài khoản tên “Ngọc D” để hỏi mua ma túy khay và 02 viên thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng. B chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng mua ma túy từ tài khoản Ngân hàng M3 của B đến tài khoản Ngân hàng T2 tên Bùi Ngọc D1 số tài khoản 05383225101. Sau khi nhắn tin mua ma túy xong thì B xóa toàn bộ tin nhắn với D1. B nói P gửi địa chỉ nhận ma tuý qua tài khoản M1 tên “Ngọc Bảo K1” để giao dịch ma tuý. P ghim địa chỉ nhà K vào tài khoản M1 tên “Ngọc Bảo K1”. Đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 10/4/2023, B canh giờ và gọi cho P thông báo ma túy đang được giao qua. P gọi điện thoại cho K nói K đi bộ ra phía trước nhà để nhận ma túy. Lúc này, K đi bộ ra trước nhà thì gặp 02 nam thanh niên đến giao cho K 01 túi nylon miệng kéo dính lớn, bên trong đựng 02 viên nén màu cam và 01 túi nylon miệng kéo dính nhỏ chứa tinh thể màu trắng là ma túy. Sau khi nhận được túi ma túy, K mang vào nhà rồi dùng điện thoại gọi Videocall M2 cho P để P nhìn thấy số ma túy đã đặt mua và xác nhận đã lấy được ma túy, P kêu Kiệt cất số ma túy đó đi chờ P và B đến để cùng sử dụng, K mang ma túy bỏ vào chiếc lồng chim treo trong sân trước nhà của K. Sau khi xác nhận đã lấy được ma túy, P nhắn tin thông báo cho B biết đã nhận được ma túy và rủ B cùng đến sử dụng nhưng B nói mệt nên không đi cùng.

Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, P đến nhà K, khi K và P đang đứng lấy túi ma túy trong lồng chim ra thì Công an phường T kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong lồng chim có 01 túi nylon miệng kéo dính lớn bên trong đựng 02 viên nén màu cam và 01 túi nylon miệng kéo dính nhỏ chứa tinh thể màu trắng.

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Tuấn P, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thế B.

Tại bản Kết luận giám định số 195/KL-KTHS (MT) ngày 17/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý loại Ketamine, có khối lượng 1,5970 gam (M1); Mẫu viên nén gửi giám định là ma tuý loại MDMA, có khối lượng 0,9604 gam (M2).

Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 195/KL-KTHS (MT) ngày 17/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 túi nylon miệng kéo dính lớn bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính nhỏ chứa tinh thể màu trắng (M1=1,5970 gam) và 02 viên nén màu cam (M2=0,9604 gam);
  • 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen, gắn sim số 0934361261;
  • 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, gắn sim số 0707070813;
  • 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng, gắn sim số 0926444666.

Xử lý vật chứng:

  • Đối với bì thư đã niêm phong bên trong chứa 1,4817 gam ma túy, loại Ketamine (M1) và 0,4782 gam ma tuý, loại MDMA (M2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen, là tài sản của Nguyễn Tuấn P thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, là tài sản của Đoàn Tuấn K thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng, là tài sản của Nguyễn Thế B thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với các sim số 0934361261, sim số 0707070813, sim số 0926444666, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với anh Bùi Hoàng L1 và Vương Văn T chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thế B giúp cho Nguyễn Tuấn P, anh L1 và anh T không biết việc B và P nhờ chuyển tiền để mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.
  • Đối với hành vi bán ma tuý của người có tài khoản Zalo “Ngọc Diễm”, qua xác minh tài khoản Ngân hàng nhận tiền của B đứng tên Bùi Ngọc D1, sinh năm 2001, địa chỉ số E khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, Bùi Ngọc D1 hiện không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã khởi tố vụ án Mua bán trái phép chất ma túy và tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
  • Đối với 02 người thanh niên giao ma túy cho Đoàn Tuấn K hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 349/CT-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn P, Đoàn Tuấn K và Nguyễn Thế B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Bì thư niêm phong bên trong chứa 1,4817 gam ma túy, loại Ketamine (M1) và 0,4782 gam ma tuý, loại MDMA (M2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định; sim số 0934361261, sim số 0707070813, sim số 0926444666;
  • Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động Iphone 11, màu đen; điện thoại di động Iphone 13 màu hồng; điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, tại nhà không số thuộc tổ C, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Công an phường T bắt quả tang Nguyễn Tuấn P, Đoàn Tuấn K và Nguyễn Thế B có hành vi tàng trữ 1,5970 gam ma túy loại Ketamine và 0,9604 gam ma túy loại MDMA để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn P rủ Đoàn Tuấn K góp tiền mua ma túy, Nguyễn Thế B là người liên lạc mua ma túy giúp cho P, K là người lấy, giấu ma túy cho P mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 349/CT-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

[4] Trong vụ án có đồng phạm nhưng là giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên không coi là tội phạm có tổ chức. Xét về vai trò cụ thể, bị cáo Nguyễn Tuấn P là người khởi xướng rủ bị cáo K góp tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo cũng là người bỏ tiền ra trước để mua ma túy; bị cáo Nguyễn Thế B là người liên lạc mua ma túy giùm P; bị cáo K là người lấy, cất giấu ma túy.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Xử lý vật chứng:

  • Xét 01 bì thư đã niêm phong bên trong chứa 1,4817 gam ma túy, loại Ketamine (M1) và 0,4782 gam ma tuý, loại MDMA (M2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.
  • Xét 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn P; 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng thu giữ của bị cáo Đoàn Tuấn K và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng, là tài sản của Nguyễn Thế B, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • Đối với các sim số 0934361261, sim số 0707070813, sim số 0926444666, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với anh Bùi Hoàng L1 và Vương Văn T chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thế B giúp cho Nguyễn Tuấn P, anh L1 và anh T không biết việc B và P nhờ chuyển tiền để mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là có căn cứ.

[10] Đối với hành vi bán ma tuý của người có tài khoản Zalo “Ngọc Diễm”, qua xác minh tài khoản Ngân hàng nhận tiền của B đứng tên Bùi Ngọc D1, sinh năm 2001, địa chỉ số E khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, Bùi Ngọc D1 hiện không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã khởi tố vụ án Mua bán trái phép chất ma túy và tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xử lý sau.

[11] Đối với 02 người thanh niên giao ma túy cho Đoàn Tuấn K hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[12] Về hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị nghiện ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[13] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 01 phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt tù đối với các bị cáo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[14] Mức hình phạt, xử lý vật chứng như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[15] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn P, Đoàn Tuấn K và Nguyễn Thế B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2023.
  • Xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2023.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đã niêm phong ghi số 195/PC09 bên trong chứa 1,4817 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4782 gam ma tuý, loại MDMA; sim số 0934361261, sim số 0707070813, sim số 0926444666.
  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Tuấn P, Đoàn Tuấn K và Nguyễn Thế B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD;
  • - Chi cục THADS tp Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 CA Bình Dương;
  • - UBND nơi cư trú của các bị cáo;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 349/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 349/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn P và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger