Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 349/2024/HS-ST

Ngày 11 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa
Ông Nguyễn Văn Năm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 319/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 316/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 591/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 07/3/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 433/36, đường L, phường I, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: phòng 1406 Chung cư B đường T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng X, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1968; bị cáo có vợ là Nguyễn Lâm Minh T1, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2022;

Tiền án: Ngày 17/9/2020, bị Toà án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Bản án số 254/2020/HS-ST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/11/2021.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 24/02/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh số 444/LTG-CSĐT-MT ngày 04/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.

1

Người làm chứng: Nguyễn Văn M, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng L là người sử dụng trái phép chất ma tuý.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/02/2023, L đi đến khu vực cầu vượt S thuộc phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương mua của người đàn ông tên “Tam Em” (không rõ nhân thân lai lịch) 02 viên nén màu xanh, 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh đều là ma tuý tổng hợp (thuốc lắc); 01 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) và 03 gói ma tuý tổng hợp (dạng khay) với giá 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) với mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi mua, L mang số ma tuý nêu trên đem về cất giấu trong phòng 1406, lầu 14, Chung cư B, F đường T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nơi L sống).

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 24/02/2023, L cùng Nguyễn Văn M (sinh năm 1998, thường trú tại ấp P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang) đi đến nhà trọ không tên tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B để gặp M1 (là bạn của M, chưa rõ lai lịch). Khi đi L đeo túi xách trước ngực (bên trong đựng toàn bộ số ma tuý mua được nêu trên). Mãi không biết việc L đã mua ma tuý và mang theo bên người. Sau khi L và M gặp M1 một lúc thì M1 đi ra ngoài mua nước. Mãi và L ngồi đợi M1 được khoảng 10 phút sau đó cả hai bỏ đi về. Khi L và M đi đến đoạn đường trước số nhà D thuộc tổ A, khu phố A, phường H thì bị Công an phường H phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Ngoài ra, vào thời gian và địa điểm nêu trên, L còn mua của Tam E 41 viên nén màu vàng, 21 viên nén màu tím và 01 gói tinh thể màu trắng nhưng tất cả đều chứa chất D không phải là ma tuý hoặc tiền chất ma tuý.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng L đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

(Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bút lục số: 01-02; Lời khai bị can bút lục số 51-78; Lời khai người làm chứng, người chứng kiến bút lục số: 93-100).

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Hoàng L:

  • + Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • + 01 túi xách và 01 hộp nhựa dùng để đựng ma tuý.
  • + 01 điện thoại di động Redmi Note 11, số imel: 867654064386440/00, gắn sim số 0896.511.321 và số 0876.070.393 dùng để liên lạc mua ma tuý.
  • + 01 điện thoại di động Nokia màu đen gắn sim số 0326.916.967.

2

  • + 02 viên nén và 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh (niêm phong ký hiệu M1);
  • + 41 viên nén màu vàng (niêm phong ký hiệu M21);
  • + 21 viên nén màu tím (niêm phong ký hiệu M22);
  • + 05 gói tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu lần lượt M3, M4, M5, M6, M7).

(Bút lục số 01-02).

- Thu giữ của Nguyễn Văn M: 01 điện thoại di động S A21S, số imel: 351662611430267 do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả điện thoại cho M (Bút lục số 162).

* Tại Kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu 02 viên nén màu xanh và 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,0124 gam, loại Methamphetamine và MDMA;

- Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 4,8634 gam, loại Methamphetamine;

- Các mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M5, M6, M7), được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng lần lượt là 17,2023 gam; 5,6603 gam và 17,1275 gam, loại Ketamine.

- Mẫu 41 viên nén màu vàng (ký hiệu M21), mẫu 21 viên nén màu tím (ký hiệu M22 và mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M4) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng lần lượt là 17,6652 gam; 9,3259 gam và 8,8568 gam, loại Dimethylsulfone.

Dimethylsulfone không thuộc Danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Thủ tướng Chính Phủ. (Bút lục số 6-7).

Quá trình điều tra ban đầu, Nguyễn Văn M khai: M1 gọi điện nhờ M tìm người bán để mua ma tuý thì Mãi hỏi L có ma tuý bán cho M1 không thì L hỏi ở đâu. Mãi gửi vị trí của M1 qua cho L và nói với M1 để M và L cùng đi đến gặp M1 giao ma tuý. Sau đó, L bị bắt quả tang. Mãi không biết việc L mang theo ma tuý (Bút lục số 94, 95). Sau đó, M thay đổi lời khai khi M1 hỏi mua ma tuý thì M nói không biết và để hỏi ông anh, M1 rủ M qua chơi thì M rủ thêm L cùng đi qua gặp M1 để giới thiệu M1. Sau đó, L bị bắt quả tang. Việc L tàng trữ trái phép chất ma tuý Mãi không biết. (Bút lục số 219-220).

Nguyễn Hoàng L khai: Mãi gọi rủ L xuống thành phố B để giới thiệu bạn gái cho L làm quen nên L đồng ý đi. Khi đi L đeo túi xách đựng ma tuý dự định đến thành phố B để tìm nơi sử dụng. Việc L mang theo ma tuý M không biết và L cũng không nói cho M biết (Bút lục số 64, 77, 216).

Đồng thời, qua kết quả điều tra, xác minh các số điện thoại, tài khoản ngân hàng của Nguyễn Hoàng L sử dụng, kiểm tra các điện thoại di động nêu trên của L nhận thấy ngoài lời khai ban đầu của M nhưng sau đó lại thay đổi,

3

không có chứng cứ chứng minh việc L tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích mua bán. Các thông tin thu giữ tại điện thoại của L không đủ cơ sở chứng minh Linh thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Đồng thời không đủ căn cứ xác định M đồng phạm với L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Kết quả điều tra về đối tượng tên M1 thể hiện: Lời khai của M không có số điện thoại, không biết rõ về nhân thân lai lịch của M1 (bút lục số 61-62, 219-220), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xác minh tại khu vực tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai không có người phụ nữ nào tên “My” (Bút lục số 160).

Tại bản Cáo trạng số: 116/CT-VKSBH ngày 02 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

* Về vật chứng đề nghị: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định: Tuyên tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 túi xách và 01 hộp nhựa dùng để đựng ma tuý. Trả lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Nokia màu đen gắn sim số 0326.916.967 cho Nguyễn Hoàng L do không liên quan đến vụ án; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi Note 11, số imel: 867654064386440/00, gắn sim số 0896.511.321, 0876.070.393.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Nguyễn Hoàng L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan

4

tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 24/02/2023, tại đoạn đường trước số nhà D thuộc tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B thì Nguyễn Hoàng L đã có hành vi tàng trữ trái phép: 1,0124 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA; 4,8634 gam ma tuý loại Methamphetamine và 39,9901 gam ma tuý loại Ketamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, trong lúc đang chạy xe đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy thì bị Công an phường H phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Là vấn đề đang được quan tâm và trở nên nhức nhối trong toàn xã hội, ma túy đã đẩy nhiều người, nhiều gia đình, nhiều thế hệ vào vòng lao lý, làm xói mòn về đạo đức, làm suy thoái về giống nòi, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngày 17/9/2020 bị cáo bị Toà án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tại Bản án số 254/2020/HS-ST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/11/2021 nhưng chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có con còn nhỏ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với 35,8479 gam chất Dimethylsulfone thu giữ của Nguyễn Hoàng L, do không thuộc Danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hành kèm theo Nghị

5

định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Thủ tướng Chính Phủ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên Tam E (chưa rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0904.755.xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát xác minh tại địa điểm L mua ma tuý và xác minh chủ thuê bao nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng Tam E nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên M1 (chưa rõ lai lịch), Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ hành vi và xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 383/KLGĐ-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 hộp nhựa dùng để đựng ma tuý và 01 túi xách đã qua sử dụng.

Trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đen gắn sim số 0326.916.967 cho Nguyễn Hoàng L do không liên quan đến vụ án; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi Note 11, số imel: 867654064386440/00, gắn sim số 0896.511.321, 0876.070.393. Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 383/KLGĐ-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ (bên trong gồm toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 hộp nhựa dùng để sử dựng ma tuý) và 01 túi xách đã qua sử dụng.

6

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi Note 11, số imel: 867654064386440/00, đã qua sử dụng, mà hình camera sau bị vỡ.

- Trả 01 điện thoại di động Nokia 1280, số Imel 352055/02/053262/6, đã qua sử dụng cho Nguyễn Hoàng L do không liên quan đến việc phạm tội.

(Các vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/02/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) của Nguyễn Hoàng L để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền trên đã được Công an thành phố B chuyển giao theo Biên lai thu số 0002678 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Nhà Tạm giữ CA TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Quốc Bảo

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 349/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 349/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger