Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:349/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/9/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 376/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc" Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 412/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 271/2024/QĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/10/1982.

HKTT: Thôn Đông Trại, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: Tổ 2, khu 1, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

2. Bị đơn : Anh Phạm Văn K. sinh ngày 06/07/1981.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Hiện đang lao động: Nhật Bản.

( Chị N, anh K đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh K tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 31/12/2008. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị sinh hai con gái, anh K thích con trai dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm. Đầu năm 2015 chị đưa hai con về bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Năm 2016 anh K từng làm đơn ly hôn nhưng chị không đồng ý, vì lúc đó các con còn nhỏ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không có điều kiện để đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

Về quan hệ con chung: Chị và anh K có 2 con chung là cháu Phạm Thị Ngọc A, sinh ngày 24/9/2009 và cháu Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 25/10/2014. Hiện nay hai con đang ở với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh K không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Anh Phạm Văn K hiện đang lao động tại Nhật Bản, do chị N không cung cấp được địa chỉ của anh K ở nước ngoài nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh K thông qua gia đình. Ông Phạm Văn P là bố đẻ anh K xác định, anh K đi Nhật Bản lao động từ năm 2020, từ khi đi anh K chưa về Việt Nam lần nào, địa chỉ của anh K ở nước ngoài ông không biết, nhưng anh K thỉnh thoảng có liên lạc về với gia đình. Anh K, chị N sống không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân được khoảng 10 năm, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Ông đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh K biết. Thông qua gia đình anh K có quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn, nay chị N có đơn ly hôn, anh đồng ý. Về con chung, anh đồng ý để chị N nuôi hai con, trường hợp chị N không nuôi được các con thì anh sẽ nuôi các con. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

Cháu Phạm Thị Ngọc H và cháu Phạm Thị Ngọc A có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị N được ly hôn anh K. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Ngọc A, sinh ngày 24/9/2009 và cháu Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 25/10/2014 cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có địa chỉ thường trú tại Tổ B, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Bị đơn anh Phạm Văn K có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thôn M, xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện anh K đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp được địa chỉ của anh K tại Nhật Bản. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh K cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh K được biết, anh K thường xuyên liên lạc với bố đẻ là ông Phạm Văn P. Ông P đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh K biết. Thông qua gia đình anh K cũng có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án chị N và anh K có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 31/12/2008, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Năm 2015 chị N đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, năm 2019 anh K đi Nhật Bản lao động, vợ chồng sống ly thân, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị N có đơn ly hôn, anh K cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K có hai con chung là cháu Phạm Thị Ngọc A, sinh ngày 24/9/2009 và cháu Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 25/10/2014. Hiện hai con đang ở với chị N, ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Thông qua gia đình anh K cũng có quan điểm đồng ý để chị N tiếp tục nuôi cả 2 con. Xét thấy, thực tế anh K đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Bên cạnh đó các cháu Ngọc A và cháu Ngọc H đều sống cùng mẹ từ nhỏ, được chị N chăm sóc và phát triển tốt. Do vậy để ổn định cuộc sống của cháu, nên tiếp tục giao cả 2 con chung cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Văn K.
  2. Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Ngọc A, sinh ngày 24/9/2009 và Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 25/10/2014 cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Anh Phạm Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000857 ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị N đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Anh Phạm Văn K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Quang Minh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 349/2024/HNGĐ-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 349/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger