Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 349/2024/DS-PT

Ngày: 06-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ H, sinh năm 1965 (có mặt).
    Địa chỉ cư trú: Khóm D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1977 (vắng mặt) và bà Phan Thị Thanh T, sinh năm 1982 (có mặt).
    Cùng địa chỉ cư trú: Khóm F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện nay: Khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Người kháng cáo: Bà Phan Thị Thanh T (là bị đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Mỹ H trình bày: Ngày 28/4/2022 (dl), bà có cho vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng. Sau khi vay thì ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T không nộp lãi, không trả vốn nên bà khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T trả lại số tiền vốn vay 300.000.000 đồng cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày vay cho đến khi xét xử sơ thẩm.

Bị đơn bà Phan Thị Thanh T thừa nhận là vợ chồng bà có nhờ bà Trần Mỹ H vay dùm số tiền 300.000.000 đồng từ ngày 04/12/2020 (dl) với lãi suất 9%/tháng. Sau khi vay vợ chồng bà đã nộp lãi đủ theo thỏa thuận và bà Trần Mỹ H đã thay đổi biên nhận nợ nhiều lần và lần sau cùng là ngày 28/4/2022. Tiền lãi mà vợ chồng bà đã nộp mỗi tháng là 27.000.000 đồng cho đến ngày tháng 02/2022 (dl) thì trả vốn được 10.000.000 đồng do cấn trừ nợ hụi và tiếp tục nộp lãi 26.100.000 đồng/1tháng, nộp cho đến tháng 9/2022 (dl). Tổng cộng số tiền lãi đã nộp bằng 559.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả là 290.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả nợ vay cho bà Trần Mỹ H nhưng yêu cầu được xem xét lại mức lãi suất mà bà đã nộp từ tháng 01/2021 đến tháng 9/2022 để đối trừ với mức lãi suất theo pháp luật quy định.

Ông Trần Văn Đ không có ý kiến khác với ý kiến của bà Phan Thị Thanh T chỉ riêng phần lãi suất thì ông Trần Văn Đ khai nhận vay với mức lãi thỏa thuận là 5%/tháng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đã quyết định:

Chấp nhận khởi kiện của bà Trần Mỹ H. Buộc vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Phan Thị Thanh T liên đới thanh toán cho bà Trần Mỹ H tổng số tiền tính đến ngày xét xử ngày 19/4/2024 là 346.749.000 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/5/2024, bà Phan Thị Thanh T kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại toàn bộ số tiền lãi mà vợ chồng bà Phan Thị Thanh T đã nộp cho bà Trần Mỹ H từ tháng 01/2021 cho đến tháng 9/2022 để đối trừ với khoản lãi suất theo pháp luật quy định cùng với số tiền gốc mà vợ chồng bà đã trả là 10.000.000 đồng từ việc cấn trừ nợ hụi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn để điều chỉnh lãi suất theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Xét kháng cáo của bà Phan Thị Thanh T được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét về quan hệ pháp luật thì giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch vay tiền và tranh chấp với nhau về nghĩa vụ hoàn trả. Từ đó, cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và áp dụng dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự để giải quyết là có căn cứ.
  3. Xét kháng cáo của bà Phan Thị Thanh T cho thấy:

    Về chứng cứ, bà Phan Thị Thanh T cung cấp 01 giấy nhận nợ lập ngày 04/12/2020(dl) và 01 Giấy nhận nợ lập ngày 30/9/2021 (dl), cả 02 giấy nhận nợ này chỉ có ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T ký xác nhận nhưng không được sự thừa nhận của bà Trần Mỹ H; nội dung nhận nợ tại hai biên nhận nêu trên không thể hiện nội dung liên quan mật thiết với nội dung giấy nhận nợ lập ngày 28/4/2022 (dl) do bà Trần Mỹ H cung cấp, nên 02 Giấy nhận nợ trên không có cơ sở pháp lý để chứng minh.

    Đối với Giấy nhận nợ lập ngày 28/4/2022 (dl) do bà Trần Mỹ H cung cấp, giấy nhận nợ này cũng chỉ có ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T ký xác nhận nhưng được các bên đương sự thừa nhận nên có đủ căn cứ để xem xét giải quyết việc tranh chấp nghĩa vụ hoàn trả giữa các bên.

    Đối với chứng cứ là đoạn ghi âm từ cuộc giao tiếp giữa bà Trần Mỹ H với vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T do phía bị đơn cung cấp thì file ghi âm này đã được giám định của Phân viện Khoa học hình sự thuộc Bộ C, kết quả đã xác định là đúng giọng nói của bà Trần Mỹ H, bà Phan Thị Thanh T, nội dung giao tiếp trong file ghi âm được ghi lại thành văn bản và được các đương sự thừa nhận đúng nên có căn cứ làm cơ sở để xem xét việc tranh chấp.

    Các hình ảnh chụp lại từ các tin nhắn zalo, SMS không đảm bảo cơ sở pháp lý về mặt chứng cứ, nội dung tin nhắn không thể hiện cụ thể, không rõ ràng trong việc xác định số vốn vay, lãi suất, người vay, thời gian vay...nên không đủ căn cứ làm cơ sở xác định giao dịch giữa các bên.

    Từ các chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền vốn mà bà Trần Mỹ H cho vợ chồng bà Phan Thị Thanh T, ông Trần Văn Đ vay là 300.000.000 đồng, ngày vay được xác định ngày 28/4/2022 (dl) là có căn cứ.

    Đối với lãi suất vay theo cấp sơ thẩm xác định là 5% dựa trên lời khai của bà Trần Mỹ H và lời khai của ông Trần Văn Đ tại cơ quan Công an. Tuy nhiên, trong giao dịch vay tiền thì bà Phan Thị Thanh T là người trực tiếp giao dịch, bà Phan Thị Thanh T khẳng định mức lãi suất không phải 5%/tháng mà là 9%/tháng. Theo giấy nhận nợ lập ngày 28/4/2022(dl) nội dung về lãi suất vay không được các bên ghi nhận nhưng về lãi suất thì các bên đều thừa nhận là vay có lãi suất, quá trình thực hiện nghĩa vụ thì phía bị đơn bà Phan Thị Thanh T cũng đã trả lãi cho bà Trần Mỹ H.

    Căn cứ từ nội dung giao tiếp giữa các đương sự được ghi âm lại đã được Phân viện Khoa học hình sự thuộc Bộ C giám định đã thể hiện sự thừa nhận của bà Trần Mỹ H cho vợ chồng bà Phan Thị Thanh T, ông Trần Văn Đ vay số tiền 300.000.000 đồng với mức lãi suất 9%/tháng và đã được bà Phan Thị Thanh T, ông Trần Văn Đ nộp lãi đủ đến tháng 9 năm 2022 với số tiền lãi mỗi tháng là 27.000.000 đồng.

    Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận theo mức lãi suất mà nguyên đơn thừa nhận 5%/tháng mà điều chỉnh mức lãi suất theo quy định của pháp luật để buộc bị đơn tiếp tục nộp lãi cho nguyên đơn từ ngày 29/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là đúng quy định. Tuy nhiên, mức lãi suất và tiền lãi mà bị đơn đã nộp cho nguyên đơn từ ngày 28/4/2022 (dl) đến ngày 28/9/2022 (dl) không được Tòa án cấp sơ thẩm điều chỉnh để đối trừ vào phần vốn vay cho phía bị đơn là chưa phù hợp với quy định chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Mức lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục trả lãi cho nguyên đơn từ ngày 29/9/2022 (dl) đến khi xét xử sơ thẩm được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 468 để xác định mức lãi suất 10%/năm là chưa phù hợp. Căn cứ từ nội dung đoạn ghi âm đã phân tích trên thì khi giao dịch vay tiền, giữa các bên đương sự đã thỏa thuận mức lãi suất được áp dụng là 9%/tháng (vay có lãi và có thỏa thuận mức lãi suất khi vay). Từ đó, căn cứ khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự để buộc bị đơn tiếp tục trả lãi cho nguyên đơn từ ngày 29/9/2022(dl) đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất được xác định là 20%/năm là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Mỹ H xác định chỉ yêu cầu tính mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để buộc vợ chồng bà Phan Thị Thanh T trả lãi cho bà Trần Mỹ H kể từ ngày 29/9/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Đây là sự tự nguyện của bà Trần Mỹ H và yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Từ đó, cần thiết sửa một phần án sơ thẩm để điều chỉnh lại số tiền lãi đã nộp và mức lãi suất áp dụng.

    Căn cứ vào các cơ sở nêu trên, số tiền vốn vay 300.000.000 đồng đã được bà Phan Thị Thanh T, ông Trần Văn Đ nộp lãi cho bà Trần Mỹ H từ ngày vay là ngày 28/4/2022 (dl) đến ngày 28/9/2022 (dl) là 05 tháng, mỗi tháng 27.000.000 đồng, tổng cộng đã nộp 135.000.000 đồng tiền lãi. Tương ứng với số vốn vay và thời gian vay nêu trên, lãi suất tính theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20%/năm thì số tiền lãi mà bị đơn phải chịu là 25.000.000 đồng. Đối trừ với số tiền lãi mà bị đơn đã nộp thì số tiền nộp lãi thừa là 110.000.000 đồng. Số tiền nộp lãi thừa này được trừ vào số tiền vốn vay 300.000.000 đồng, số tiền vốn vay còn lại là 190.000.000 đồng. Số tiền vốn vay còn lại 190.000.000 đồng này được tiếp tục tính lãi suất 10%/năm từ ngày 29/9/2022 (dl) đến ngày xét xử sơ thẩm 19/4/2024 tương đương 01 năm 06 tháng 20 ngày, tiền lãi bằng 29.550.000 đồng. Tổng cộng vốn là lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 219.550.000 đồng.

  4. Từ những căn cứ trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phan Thị Thanh T. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
  5. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
  6. Bà Phan Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định chung và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Trần Mỹ H phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phan Thị Thanh T. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

  2. Căn cứ vào các Điều 26; 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Mỹ H. Buộc vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T cùng chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Mỹ H tổng số tiền vốn vay và lãi suất bằng 219.550.000 đồng (Hai trăm mười chín triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
    • Kể từ ngày bà Trần Mỹ H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì ông Trần Văn Đ, bà Phan Thị Thanh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
    • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trần Văn Đ và bà Phan Thị Thanh T cùng phải chịu 10.977.500 đồng. Bà Trần Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bằng 4.022.500 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp là 7.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015951 ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn, phần còn lại là 3.477.500 đồng được hoàn lại cho bà Trần Mỹ H.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm bà Phan Thị Thanh T không phải chịu và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0014010 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 349/2024/DS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 349/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/5/2024, bà Phan Thị Thanh T kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại toàn bộ số tiền lãi mà vợ chồng bà Phan Thị Thanh T đã nộp cho bà Trần Mỹ H từ tháng 01/2021 cho đến tháng 9/2022 để đối trừ với khoản lãi suất theo pháp luật quy định cùng với số tiền gốc mà vợ chồng bà đã trả là 10.000.000 đồng từ việc cấn trừ nợ hụi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger