|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 349/2025/DS-PT Ngày: 26-11-2025 V/v: “Tranh chấp lối đi chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Thẩm phán: Ông Dư Thành Trung
Bà Nguyễn Thị Bích Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Khánh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Đinh Tiến Hòa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng nghị, kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 512/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 367/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (Đã chết ngày 04/10/2025).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
1.1. Bà Đinh Thị Thanh V, sinh năm 1952. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
1.2. Chị Ngô Thị Mỹ H1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số E đường H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Ông Đoàn Bảo L, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số E đường H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/11/2025). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/11/2025). Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1940. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.2. Ông Ngô Văn D, sinh năm 1948. Địa chỉ: Số F đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.3. Ông Ngô Văn P, Địa chỉ: Số F đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.4. Anh Ngô Văn H2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.5. Chị Ngô Thị Thanh H4, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
3.6. Chị Ngô Thị Thanh H5, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số B đường Đ (hẻm F), phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Ông Ngô Văn Đ – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Văn H là ông Đoàn Bảo L trình bày:
Ông Ngô Văn H hiện là người đang sử dụng thửa đất số 966 (gốc 259), tờ bản đồ số 29, tại Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng), đã được UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS19599 ngày 04/9/2019. Nguồn gốc thửa đất này bố, mẹ ông H chia cho các con. Để đi vào thửa đất của ông H có lối đi chung giữa hai thửa đất 260 và 263, trong đó thửa 263 là thửa đất của ông Ngô Văn Đ (anh ruột ông H), lối đi chung dài khoảng 36m, rộng 1,4m được hình thành từ trước năm 1975 để sử dụng cho các hộ dân trong khu vực và anh em trong gia đình ông Đ, ông H đi đến hồ nước chung của gia đình nằm trên thửa đất số 264 lấy nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, hiện nay thửa 264 vẫn là hồ nước và có nhà tạm để dựng máy hút nước.
Theo trích lục bản đồ thửa 263 thể hiện có lối đi chung. Lối đi chung này không nằm trong diện tích đất được cấp cho ông Đ, nhưng khoảng tháng 9 năm 2020 ông Đ đã rào đường và trồng cây trên lối đi để lấn chiếm toàn bộ lối đi này, nên gia đình ông H không có lối đi vào đất sản xuất; hiện nay do không có lối đi nên đất của gia đình ông H bỏ hoang, không canh tác, sản xuất được. Ngoài lối đi chung này gia đình ông H không có lối đi nào khác.
Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu, ông H yêu cầu ông Đ trả lại diện tích đất lấn chiếm là 59,56m² (phần số 02) tại Họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ngày 04/6/2021. Tuy nhiên, qua tính toán thì ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích 27,02m², chỉ yêu cầu ông Đ trả lại diện tích đất 32,58m².
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Ngô Văn Đ là bà Lưu Thanh S trình bày:
Ông Ngô Văn Đ hiện đang sử dụng thửa đất số 263, tờ bản đồ số D94-III, diện tích 1.145,3m² tại Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng) được UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 ngày 17/8/1998. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý vì phần diện tích đất tranh chấp này thuộc phần diện tích 1.145,3m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 nêu trên và không có bất kỳ văn bản thỏa thuận nào thể hiện nội dung phần diện tích đất tranh chấp là lối đi chung của các hộ dân. Đồng thời phần diện tích đất này ông Ngô Văn H đã khai trong yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 do UBND thành phố Đ cấp cho bị đơn và Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã thụ lý vụ án hành chính tại Thông báo thụ lý số 30/2021/TLST-HC ngày 14/5/2021.
Nguyên đơn cho rằng ngoài con đường này thì không có con đường nào khác để đi vào đất của nguyên đơn là không đúng, bởi vì theo nội dung Báo cáo số 137/BCSTNMT ngày 16/3/2021 của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L thì thửa đất số 259, tờ bản đồ số D94.III của ông H đang quản lý, sử dụng phía Đông giáp với thửa 262, đất của ông H được tách thành 03 thửa, trong đó có thửa 969 ông H đang là chủ sử dụng giáp với đường hẻm công cộng, vì vậy ông H hoàn toàn có thể sử dụng hẻm đi công cộng này và không bị hạn chế đối với thửa đất liền kề theo Điều 171 Luật đất đai 2013. Trường hợp nếu nguyên đơn cho rằng không có lối đi thì phải yêu cầu mở lối đi và phải trả tiền.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T1 trình bày:
Hiện nay ông đang sử dụng thửa đất số 264, 01 phần thửa 263, thửa 268 và 7187 tờ bản đồ số 30, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng). Nguồn gốc các thửa đất của ông, của ông Đ, ông H và ông D là của bố, mẹ chia cho các con cùng sử dụng. Khi chia đất thì đã có sẵn lối đi (đường mòn) chiều ngang 80cm và anh em cùng thống nhất đi trên lối đi này vào đất sản xuất cho đến thời điểm ông H và ông Đ tranh chấp. Lối đi nằm giữa thửa đất 260 của ông D và thửa 263 của ông Đ đang sử dụng. Hiện nay muốn đi vào các thửa 264 của ông đang sử dụng (trước kia là hồ nước chung của anh em bán lại cho ông) thì phải đi qua lối đi này. Vì vậy, ông H yêu cầu ông Đ phải trả lại lối đi chung thì ông khẳng định đó là lối đi nằm giữa thửa 260 và thửa 263, chiều ngang 80cm theo lối mòn từ trước đến nay và đề nghị phải chừa làm lối đi chung vì có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn D trình bày:
Phần đất ông H đang tranh chấp đi ngang qua đất nhà ông Đ là lối đi tự các anh em ruột trong nhà chừa lại khoảng 80cm dài theo dọc đất nhà ông Đ để đi vào sản xuất (ông D chừa 40cm, ông Đ chừa 40cm), phần lối đi này đã có trên 20 năm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Thanh H4 trình bày:
Phần đất đang tranh chấp là lối đi bố chị ông H sử dụng từ rất lâu, sau đó bố chị chia đất lại cho các con canh tác và đi trên lối đi này vào đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng tuyên xử:
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần diện tích 27,02m² thuộc thửa đất 263, tờ bản đồ số D94-III Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Văn H về việc “Tranh chấp lối đi chung” đối với bị đơn ông Ngô Văn Đ.
Buộc ông Đ phải chừa lại phần diện tích 32,58m² đất tại thửa đất 263, tờ bản đồ số D94-III, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng) thuộc phần ký hiệu số 02 có chiều ngang 1,23m từ mốc số 04 sang mốc số 03 và 0,96m từ mốc số 05 sang mốc số 14, chiều dài 36,32m theo Họa đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ để sử dụng chung (làm lối đi).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ/VKS-DS ngày 22/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 18/7/2025, bị đơn Ngô Văn Đ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1–Lâm Đồng và đơn kháng cáo của ông Ngô Văn Đ; thủ tục kháng nghị, kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 278, 279, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Ngô Văn H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ngô Văn Đ trả phần diện tích đất lối đi chung mà ông cho rằng ông Đ đang lấn chiếm, ông Đ không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp lối đi chung” là đúng quy định của pháp luật.
[3]. Qua xem xét kháng nghị, kháng cáo thấy rằng:
[3.1]. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Văn H. Buộc bị đơn ông Ngô Văn Đ phải chừa lại phần diện tích 32,58m² đất thuộc một phần thửa đất 263, tờ bản đồ số D94-III, Phường C, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng để sử dụng chung làm lối đi.
Tuy nhiên tại Họa đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 23/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ được đính kèm theo Bản án sơ thẩm lại không thể hiện rõ phần diện tích 32,58m² được tuyên làm lối đi chung, dẫn đến không thi hành án được.
Ngoài ra, phần diện tích tranh chấp 32,58m² này sau khi lồng ghép bản đồ địa chính thể hiện thuộc một phần thửa đất số 263, tờ bản đồ số D94-III được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 do UBND thành phố Đ cấp ngày 17/8/1998 cho hộ ông Ngô Văn Đ. Tại thời điểm cấp sổ năm 1998 hộ ông Đ ngoài ông Đ thì còn có vợ ông Đ là bà Nguyễn Thị H6 và 06 người con là anh Ngô Tấn A sinh năm 1972, anh Ngô Tấn P1 sinh năm 1990, anh Ngô Tấn N sinh năm 1975, anh Ngô Tấn Q sinh năm 1977, chị Ngô Thị Phương N1 sinh năm 1979 và anh Ngô Tấn P2 sinh năm 1981. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn cũng trình bày hiện nay thửa đất 263 nêu trên đang được người con của ông Đ là ông Ngô Tấn P1 trực tiếp quản lý, sử dụng trồng nho. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc ông Đ chừa 32,58m² làm lối đi chung mà không đưa các thành viên hộ gia đình ông Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm tố tụng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Diện tích tranh chấp 32,58m² theo kết quả đo đạc thể hiện thuộc một phần thửa đất số 263, tờ bản đồ số D94-III được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 do UBND thành phố Đ cấp ngày 17/8/1998. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là lối đi chung thì cần phải đưa cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Đ tham gia tố tụng để đánh giá tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 nêu trên. Tuy nhiên, ông Ngô Văn H đã khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 533664 do UBND thành phố Đ cấp cho bị đơn và Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã thụ lý vụ án hành chính tại Thông báo thụ lý số 30/2021/TLST-HC ngày 14/5/2021.
[3.2]. Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng) đối với hiện trạng sử dụng thửa đất 259, tờ bản đồ số D94.III mà ông H đang quản lý, sử dụng ghi nhận không có lối đi nào khác ngoài lối đi các bên đang tranh chấp. Trong khi đó, tại Báo cáo số 137/BCSTNMT ngày 16/3/2021 của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L có nội dung: “Thửa đất số 259, tờ bản đồ số D94.III ông H đang quản lý, sử dụng phía Đông giáp với thửa 262, lô đất của ông H được tách thành 03 thửa gồm thửa 967 (tặng cho ông Ngô Văn H2), thửa 968 (tặng cho bà Ngô Thị Thanh H5), thửa 969 và một phần thửa 262 thì ông H đang là chủ sử dụng giáp với đường hẻm công cộng”. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đối với việc tách thửa 262 cũng như việc đăng ký biến động sau khi tách thửa để làm rõ nội dung này. Trường hợp có căn cứ xác định diện tích đất các bên tranh chấp không phải là lối đi chung mà thửa đất 259, tờ bản đồ số D94.III lại bị vây bọc bởi bất động sản của các chủ sở hữu khác, không có lối đi ra thì cần phải giải quyết một lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự.
Từ những phân tích trên nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng đưa thiếu người tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; thu thập chứng cứ chứng minh chưa đầy đủ, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên chấp nhận một phần kháng cáo và kháng nghị; hủy Bản án sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 07/7/2025, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
[4]. Chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[5]. Về án phí: Do hủy án sơ thẩm nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1– Lâm Đồng về việc “Tranh chấp lối đi chung” giữa nguyên đơn ông Ngô Văn H; bị đơn ông Ngô Văn Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng giải quyết lại theo thủ tục chung.
2. Chi phí tố tụng sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Án phí phúc thẩm: Ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Dư Thành Trung | Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
| Nguyễn Thị Bích Thảo |
Bản án số 349/2025/DS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 349/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyền sử dụng đất
