TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3487/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Bà Bùi Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – kiêm sát viên.
Ngày 31/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2379/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1989 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Vũ Tuấn L, sinh năm 1989 (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng thương mại cổ phần K
Địa chỉ: 15/1 đường số 38, khu phố 8, phường Hiệp Bình Chánh, TP. Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 1 đường số C, khu phố H, phường H, TP ., Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: B A; Phường D, Quận E, TP .
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (xin vắng mặt)
Địa chỉ: B A; Phường D, Quận E, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2023; trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Vũ Tuấn L, tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2017 có tổ chức cưới hỏi, và đăng ký kết hôn ngày 10/7/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi tiến tới hôn nhân cuộc sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là: Vợ chồng không cùng quan điểm sống, ông L không có tránh nhiệm với vợ con; hai vợ chồng đã sống ly thân hơn 3 tháng nay; vì vậy bà xác định tình cảm với ông L không còn nên yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017; Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2, sinh ngày 11/12/2021. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này
- Về nợ chung: Không có
Bị đơn ông Vũ Tuấn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị H, tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2017 có tổ chức cưới hỏi, và đăng ký kết hôn ngày 10/7/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi tiến tới hôn nhân cuộc sống hạnh phúc không có phát sinh mâu thuẫn gì lớn; hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân; vì vậy ông xác định tình cảm với bà H không còn nên đồng ý ly hôn với bà H.
- Về con chung: Tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017; Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019; sau khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017 và giao hai con chung tên Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2, sinh ngày 11/12/2021 cho bà H được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này
- Về nợ chung: Không có
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng thương mại cổ phần K trình bày:
Ngày 03/6/2024 bà H đã thanh toán khoản nợ xong cho Ngân hàng và không còn khoản nợ nào tại Ngân hàng, nên Ngân hàng không có ý kiến gì đối với vụ kiện giữa bà H và ông L; Ngân hàng xin được vắng mặt các buổi làm việc xét xử liên quan đến vụ án nêu trên.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, các đương sự chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa theo đúng quy định; tuy nhiên Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công nhận sự thuận tình ly hôn của nguyên đơn và bị đơn, về con chung chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, về tài chung: tự thỏa thuận, nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định, đánh giá đầy đủ, toàn diện, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án. Bị đơn ông Vũ Tuấn L cư trú tại thành phố T; nên thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp. Căn cứ vào đơn khởi kiện; bà Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Tuấn L, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn”; là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức cho rằng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử là có cơ sở, nên Thẩm phán cần phải rút kinh nghiệm.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị H.
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 33/2017 ngày 10/7/2017 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang cấp cho bà Lê Thị H và ông Vũ Tuấn L; thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận; nay bà H yêu cầu được ly hôn với ông L vì đời sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc và có phát sinh mâu thuẫn. Tại tòa bà H, ông L thừa nhận hiện nay vợ chồng không có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vì vậy nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; bà H yêu cầu được ly hôn ông L cũng đồng ý; nên ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa bà H và ông L là có căn cứ phù hợp với quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017; Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2, sinh ngày 11/12/2021; sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba người con chung; ông L có nguyện vọng được trực tiếp, chăn sóc, nuôi dưỡng người con tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017.
Xét thấy, ông L và bà H đều có đủ các điều kiện về sức khỏe, tinh thần cũng như về đạo đức, phẩm chất của người làm cha, làm mẹ để thực hiện quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Xét về quyền và nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật thì điều đầu tiên phải là cha, mẹ; phải coi trọng và căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh của cha, mẹ để thực hiện việc giao con cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nhất. Mục đích cũng chỉ để đảm bảo một cuộc sống tốt nhất cho sự phát triển bình thường của con trẻ. Xét về tổng thể mọi mặt trong đời sống của ông L và bà H thì cơ bản là đều ngang nhau. Tại biên bản lấy ý kiến của trẻ tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017 có nguyện vọng được ở với mẹ và cho biết người đưa trẻ đi học không phải là mẹ; tuy nhiên ý kiến của trẻ chỉ mang tính tham khảo. Nếu giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cả ba người con chung, sẽ không đảm bảo cuộc sống cho trẻ một cách tốt nhất. Tại tòa ông L cho biết bà H làm nghề S thường đi làm sớm và về trễ; nên cần giao cho ông L được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017 và giao hai con chung tên Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2, sinh ngày 11/12/2021 là phù hợp, hoàn toàn hợp tình, hợp lý và không trái đạo đức xã hội và các quy định của pháp luật.
[2.3]. Về tài sản chung: Các đương sự khai tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4]. Về nợ chung: Theo đơn khởi kiện bà H khai không có, tuy nhiên ông L đến tòa làm bản tự khai trình bày có khoản nợ tại Ngân hàng và tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2024 bà H và ông L thừa nhận có khoản nợ chung tại Ngân hàng thương mại cổ phần K – chi nhánh Q, Tp .; Tòa án đã đưa Ngân hàng thương mại cổ phần K vào tham gia tố tụng và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/6/2024 và ngày 26/6/2024 Ngân hàng trình bày: Ngày 03/6/2024 bà H đã thanh toán khoản nợ xong cho Ngân hàng và không còn khoản nợ nào tại Ngân hàng, nên Ngân hàng không có ý kiến gì đối với vụ kiện giữa bà H và ông L. Tại tòa bà H, ông L khai hiện nay không còn khoản nợ nào khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5]. Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu về việc giải quyết vụ án đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa các đương sự; giao hai con chung tên Vũ Thái Thục A, sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2, sinh ngày 11/12/2021 cho bà H được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng; về tài sản các đương sự tự thỏa thuận, về nợ chung không có nên không xét là phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, nên được chấp nhận; về ý kiến của đại diện viện kiểm sát đề nghị Tòa án giao luôn con chung tên Vũ Quốc T1, sinh ngày 09/5/2017 cho bà H được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng là không được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng bà Lê Thị H phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị H tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa bà Lê Thị H và ông Vũ Tuấn L (giấy chứng nhận kết hôn số 33/2017 ngày 10/7/2017 của Ủy ban nhân dân phường T, TP ., tỉnh Tuyên Quang) không còn giá trị pháp lý.
- Về nuôi con chung:
- + Giao 02 (hai) người con chung tên Vũ Thái Thục A (nữ), sinh ngày 04/3/2019 và Vũ Thục T2 (nữ), sinh ngày 11/12/2021 cho bà Lê Thị H được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- + Giao người con chung tên Vũ Quốc T1 (nam), sinh ngày 09/5/2017 cho ông Vũ Tuấn L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng
- Về tài sản chung: Bà H và ông L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này
- Về nợ chung: Bà H và ông L khai không có
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Lê Thị H phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005569 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án: “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”./.
Nơi nhận:
| TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Tình |
Bản án số 3487/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 3487/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
