|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 348/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng.
ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 241/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/12/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm 1991.
- Bị đơn: anh Đỗ Văn V, sinh năm 1986.
Đều thường trú: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên có mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn V tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 09/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết
hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh V tại xã Đ và làm lao động tự do. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, phát triển kinh tế gia đình, anh V mải chơi không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã cho anh V nhiều cơ hội, gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không thay đổi. Từ tháng 07 năm 2023 đến nay chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở nhờ, vợ chồng ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu xin ly hôn anh V.
Về con chung: chị và anh V có 02 con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011 và cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân cả 02 con chung đang ở với chị H. Nay ly hôn, chị H đề nghị được nuôi dưỡng cháu Đỗ Vũ Hoàng Y và giao cháu Đỗ Vũ Hoàng L cho anh Đỗ Văn V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đỗ Văn V: hiện thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện M. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh V đều vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến.
Tòa án đã lấy lời khai của bà Đỗ Thị D là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn V, bà D cho biết:
Bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn V, sinh năm 1986 và là mẹ chồng của chị Vũ Thị H, sinh năm 1991. Do con trai bà là anh Đỗ Văn V phải đi làm ăn lo cho cuộc sống, thỉnh thoảng mới về nhà nên không thu xếp được công việc để về Tòa án giải quyết ly hôn theo đơn xin ly hôn của chị H. Các văn bản tố tụng của Tòa án bà sẽ nhận thay cho anh V và có trách nhiệm giao lại tận tay, thông báo lại cho anh V ngay trong ngày. Do bận công việc nên anh V có nói với bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt anh tại tất cả các buổi làm việc, không tiến hành hòa giải, gia đình bà và anh V không có ý kiến thắc mắc gì.
Ngoài ra bà D cho biết: Gia đình hai bên tổ chức đám cưới cho anh V và chị H theo phong tục, tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2010. Sau khi kết hôn thì 2 vợ chồng làm lao động tự do và sinh sống tại thôn T, xã Đ cùng với bà. Trong quá trình chung sống đến năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm lối sống, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù gia đình cũng cố gắng để hòa
giải hàn gắn cho 2 vợ chồng Vương H1 về ở với nhau nhưng đều không có kết quả. Hiện giờ chị H1 không ở cùng gia đình bà và anh V nữa mà ở cùng bố mẹ đẻ tại đội A, thôn T, xã Đ. Nay chị H1 có đơn xin ly hôn, quan điểm của gia đình bà và của anh V là mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con nhưng nếu chị H1 vẫn kiên quyết xin ly hôn thì gia đình bà và quan điểm của anh V là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống, chị H1 và anh V có 02 con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011 và cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả 02 con chung đang ở với chị H1, nhưng vì gia đình nội ngoại 2 bên ở gần nhau nên vẫn thường xuyên thăm nom, đi lại quan tâm các cháu. Quan điểm của gia đình bà và anh V là đề nghị được nuôi dưỡng cháu Đỗ Vũ Hoàng L và giao cháu Đỗ Vũ Hoàng Y cho chị H1 nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Gia đình bà và quan điểm của anh V là không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn nếu sau này chị H1 đi lấy chồng khác thì phải giao lại con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng Y cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, công sức và nợ chung: bà không nắm bắt được về vấn đề này. Còn anh V nói với bà về tài sản chung, công sức và nợ chung của vợ chồng thì anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Xác minh tại địa phương, Ủy ban nhân dân xã Đ cung cấp:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị H, sinh năm 1991 và anh Đỗ Văn V, sinh năm 1986 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 09/11/2010 theo số 66/2010, quyển số 10/2007.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh V sinh sống tại xã Đ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo địa phương nắm bắt được là do bất đồng trong quan điểm, lối sống, anh V không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng xảy ra bất hoà. Hiện chị H không còn sống cùng anh V và gia đình chồng nữa mà về nhà bố mẹ đẻ của chị H. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh V, quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: chị Vũ Thị H và anh Đỗ Văn V có 02 con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011, xác định theo Giấy khai sinh số 174, quyển số 01/2011 ngày 09/9/2011 của Ủy ban nhân dân xã Đ và cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016, xác định theo Giấy khai sinh số 165, ngày 19/8/2016 của Ủy ban nhân dân xã Đ. Ngoài ra, chị H và anh V không thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con chung, con nuôi nào khác. Do con chung
còn nhỏ nên đề nghị Toà án giải quyết để bảo đảm tốt nhất quyền lợi về mọi mặt cho các cháu.
- Về tài sản chung, công sức và nợ chung của vợ chồng chị H và anh V địa phương không nắm bắt được. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Hiện anh Đỗ Văn V thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn Vũ Thị H đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn anh Đỗ Văn V dù được triệu tập và giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H. Cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn V.
Về con chung: giao con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011 cho anh V và giao cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Vũ Thị H trình bày không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: chị Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Vũ Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Đỗ Văn V có hộ khẩu và nơi cư trú tại T, xã Đ, huyện M, đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Anh Đỗ Văn V dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị H và anh Đỗ Văn V tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng quan điểm sống, phát triển kinh tế gia đình, không tìm được tiếng nói chung, anh V không quan tâm đến vợ con nên cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Thực tế từ tháng 7 năm 2023 đến nay vợ đã sống ly thân. Quá trình giải quyết anh V đều không đến làm việc.
Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: xét yêu cầu của chị H về việc được trực tiếp nuôi con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016 và giao con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011 cho anh V nuôi dưỡng thì thấy: từ khi vợ chồng ly thân, cháu Y đang ở cùng chị H, được chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu Y là con gái nên cần sự chăm sóc, dạy dỗ, tâm lý của người mẹ, cháu Y cũng có nguyện vọng xin ở với mẹ. Cháu Đỗ Vũ Hoàng L có nguyện vọng được ở với bố, quan điểm của anh V và gia đình cũng đề nghị được nuôi cháu L. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Đỗ Vũ Hoàng Y cho chị Vũ Thị H và giao cháu Đỗ Vũ Hoàng L cho anh Đỗ Văn V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của các bên yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Vũ Thị H xác nhận không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Tách phần tài sản, công sức và nợ chung để giải quyết trong vụ án khác nếu anh Đỗ Văn V có yêu cầu.
- Về án phí: chị Vũ Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn V.
- Về con chung: xác nhận chị Vũ Thị H và anh Đỗ Văn V có 02 con chung là cháu Đỗ Vũ Hoàng L, sinh ngày 26/7/2011 và cháu Đỗ Vũ Hoàng Y, sinh ngày 25/7/2016. Hiện cả 02 con chung đang ở với mẹ là chị Vũ Thị H.
Khi ly hôn, giao cháu Đỗ Vũ Hoàng L cho anh Đỗ Văn V và giao cháu Đỗ Vũ Hoàng Y cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Đỗ Văn V cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
Anh Đỗ Văn V và chị Vũ Thị H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công sức và nợ chung: chị Vũ Thị H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tách phần tài sản, công sức và nợ chung để giải quyết trong vụ án khác nếu anh Đỗ Văn V có yêu cầu.
- Về án phí: chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 00039525 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Đức Hiệp |
6
7
Bản án số 348/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 348/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
