Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 348/2024/DS-PT

Ngày: 24/4/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hiền
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Kim Dung
Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Nguyễn Phương Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/4/2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 180/2024/TLPT-DS ngày 02/02/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất

Do bản án dân sự sơ thẩm số 559/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1313/2024/QĐPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4553/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Minh T – sinh năm 1978 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số F tổ A, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh T1 – sinh năm 1981 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Nhà không số (kế nhà số F) tổ A, ấp F. xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1986 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số F tổ A, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Huỳnh Thị Sa P – sinh năm 1986 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  5. Ông Nguyễn Thanh P1 – sinh năm 1982 (vắng mặt)
  6. Huỳnh Thị Mai T3 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số E T, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Đào Minh T trình bày:

Ông Đào Minh T đang sở hữu thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 909206, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 02996 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Huỳnh Thị D vào ngày 25/11/2011. Sau đó bà Huỳnh Thị D đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho ông T vào ngày 21/4/2015 và ông T đã đăng bộ sang tên vào ngày 13/5/2016. Sát bên phần đất ông T là đất của ông Nguyễn Mạnh T1. Ông T phát hiện ra ông T1 đã tự ý lấn chiếm sử dụng phần đất trên của ông T. Khi ông T phát hiện ra thì ông T đã yêu cầu ông T1 trả lại phần đất đã lấn chiếm nhưng ông T1 không đồng ý. Ông T nhận thấy việc ông T1 lấn chiếm đất của ông T là trái với các quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tranh chấp giữa các bên đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện B hòa giải ngày 23/01/2019 nhưng không thành. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu ông Nguyễn Mạnh T1 chấm dứt việc lấn chiếm đất của ông T, trả lại cho ông T diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 43,8 m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138, xã V, huyện B.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 trình bày:

Ngày 28/6/2012, ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Thanh P1 và bà Huỳnh Thị Mai T3 thửa đất số 373, tờ bản đồ số 138 (BĐĐC) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 087064, số vào sổ cấp GCN CH00372 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 12/4/2010 cho bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Đặng Văn Đ. Theo ông T1 được biết thửa đất trên là do ông P1 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Đặng Văn Đ. Khi ông T1 mua trên đất đã có sẵn căn nhà không số (kế nhà số F) tổ A, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T1 không có lấn chiếm đất của ông T.

Thực tế, trước khi ông Đào Minh T mua đất và về sống tại tổ A, ấp F, V, huyện B; ông T1 đã sống ở tổ A, ấp F, xã V, huyện B không hề xảy ra tranh chấp đất (ông T1 sống ở địa chỉ này trước ông T khoảng hơn 4 năm). Khi ông T về sống ở cạnh hơn 3 năm không hề có tranh chấp (ông T có xây nhà xây tường bao khi về sống tại địa chỉ hiện tại). Với những lý do trên ông T1 khẳng định diện tích đất hiện tại của ông T1 đang sử dụng là hợp pháp. Vì vậy, ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Minh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

T2 là vợ của ông Đào Minh T, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T và không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Sa P trình bày:

Ngày 28/6/2012, ông T1 và bà P nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Thanh P1 và bà Huỳnh Thị Mai T3 thửa đất số 373, tờ bản đồ số 138 (BĐĐC) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 087064, số vào sổ cấp GCN CH00372 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 12/4/2010 cho bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Đặng Văn Đ. Khi ông T1 và bà P mua thì trên đất đã có sẵn căn nhà không số (kế nhà số F) tổ A, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T1 và bà P không có lấn chiếm đất của ông T, vì vậy không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Minh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh P1 và bà Nguyễn Thị Thanh H: Vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Tại bản án số 559/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Căn cứ vào khoản 9, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Minh T đối với bị đơn là ông Nguyễn Mạnh T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Mạnh T1 và vợ là bà Huỳnh Thị Sa P có trách nhiệm trả lại cho Đào Minh T và bà Nguyễn Thị T2 phần đất có diện tích 43.8m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 (tài liệu BĐĐC), tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí trên bảng ghi chú diện tích thuộc số (4) và (5) hiện trạng tỉ lệ 1/500 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H lập ngày 09/10/2019.
  3. Kiến nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét xử lý công trình xây dựng không phép trên đất nông nghiệp có diện tích 43.8m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 (tài liệu BĐĐC), tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Mạnh T1 phải chịu án phí là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. H1 lại cho ông Đào Minh T số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0046435 ngày 27/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 có Đơn kháng cáo đề ngày 19/10/2023, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn ông Đào Minh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 có Đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị đơn là người kháng cáo ông Nguyễn Mạnh T1: Có Đơn xin xét xử vắng mặt, tại Đơn kháng cáo ông T1 (BL 280) trình bày lý do của việc kháng cáo là đất đã được phân thành từng lô có ranh giới hiện hữu, nhà ông Nguyễn Mạnh T1 đã có lô giới trước khi nhà ông T mua đất. Do đó, ông T yêu cầu hội đồng phúc thẩm thẩm định lại hiện trạng ban đầu của từng lô đất, thẩm định lại thời gian nhà ông T1 xây dựng và nhà ông T xây dựng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà: Bà Huỳnh Thị Sa P có Đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh P1 và bà Huỳnh Thị Mai T3 vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai, không rõ lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nên các ông bà trên không có phần trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Về hình thức đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung vụ án:

Ông Đào Minh T khởi kiện ông Nguyễn Mạnh T1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất đã bị lấn chiếm có diện tích là 43.8m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ đo đạc ngày 09/10/2019 thể hiện các bên đương sự tranh chấp phần đất có diện tích 43,8m² bao gồm (ký hiệu số (4) là 37,0m²; ký hiệu số (5) là 6.8m²) trên bảng ghi chú diện tích thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB), xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 909206, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 02996 do UBND huyện B cấp cho bà Huỳnh Thị D vào ngày 25/11/2011. Sau đó bà Huỳnh Thị D đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho ông Đào Minh T vào ngày 21/4/2015 và ông T đã đăng bộ sang tên vào ngày 13/5/2016 thì ông Đào Minh T được quyền sử dụng phần đất có tổng diện tích 286,4m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 374 (phân chiết từ một phần thửa 110) tờ bản đồ số 138, (tài liệu BĐĐC), tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 087064, số vào sổ cấp GCN: CH00372 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 12/4/2010 cho bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Đặng Văn Đ. Sau đó ông Đ và bà H đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn Thanh P1, ông P1 đã bán cho ông Nguyễn Mạnh T1 vào ngày 28/6/2012 (hai bên sang nhượng bằng giấy tay), đến ngày 04/09/2012 ông P1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 850708, số vào sổ cấp GCN: CH 03964 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp với diện tích là 136,9m2, đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 373 (phân chiết từ một phần thửa 110) tờ bản đồ số 138, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay ông Nguyễn Mạnh T1 và gia đình đang trực tiếp sinh sống tại thửa đất này. Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh và Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ đo đạc ngày 09/10/2019 thể hiện các bên đương sự tranh chấp phần đất có diện tích 43,8m² (ký hiệu số (4) là 37,0m²; ký hiệu số (5) là 6.8m²) trên bảng ghi chú diện tích thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138, xã V thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 909206, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 02996 do UBND huyện B cấp cho bà Huỳnh Thị D vào ngày 25/11/2011. Sau đó bà Huỳnh Thị D đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho ông T vào ngày 21/4/2015 và ông T đã đăng bộ sang tên vào ngày 13/5/2016 có tổng diện tích 286,4m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 374 (phân chiết từ một phần thửa 110) tờ bản đồ số 138, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Công văn số 1497/UBND ngày 12/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, có đủ cơ sở xác định: công trình xây dựng trên đất có diện tích 43,8m² (ký hiệu số (4) là 37,0m²; ký hiệu số (5) là 6.8m²) trên bảng ghi chú diện tích thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng trái phép không được phép tồn tại trên đất nông nghiệp nên cần bị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Qua phân tích như trên nhận thấy, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T: buộc Nguyễn Mạnh T1 phải hoàn trả lại phần đất có diện tích 43,8m² (ký hiệu số (4) là 37,0m²; ký hiệu số (5) là 6.8m²) trên bảng ghi chú diện tích cho ông Đào Minh T là phù hợp quy định pháp luật, bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 kháng cáo và nộp tài liệu là các hình ảnh trắng đen không có nội dung, không có chú thích về ngày tháng, đồng thời yêu cầu thẩm định lại hiện trạng ban đầu của từng lô đất, thẩm định lại thời gian nhà ông T1 và nhà ông T xây dựng... là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm kiến nghị cơ quan chức năng mà không nêu cụ thể cơ quan nào có trách nhiệm xử lý công trình xây dựng không phép trả đất cho nguyên đơn là chưa giải quyết triệt để tranh chấp giữa các bên nên cần phải sửa 1 phần bản án. Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 559/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh theo hướng buộc bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 tháo dỡ công trình xây dựng không phép trả lại đất cho nguyên đơn ông Đào Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 trong hạn luật định, nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đào Minh T, bị đơn là người kháng cáo ông Nguyễn Mạnh T1, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Sa P, bà Nguyễn Thị T2 đều có Đơn xin xét xử vắng mặt và ông Nguyễn Thanh P1, bà Huỳnh Thị Mai T3 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa phúc thẩm không rõ lý do, dù được Tòa án triệu tập hợp lệ do đó căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử có cơ sở xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Về nội dung:

Xét thấy, bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 có Đơn kháng cáo đề ngày 19/10/2023, nội dung chỉ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm thẩm định lại hiện trạng ban đầu của từng lô đất và thẩm định lại thời gian xây dựng nhà (BL 280), tuy nhiên ông T1 có Đơn xin xét xử vắng mặt. Mặc dù Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng ông T1 không có mặt, không có Đơn yêu cầu Tòa án thẩm định lại, không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Theo Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị” do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 tháo dỡ công trình xây dựng không phép trả lại đất cho nguyên đơn ông Đào Minh T, theo Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng thì Tòa án không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, do đó cần kiến nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét xử lý công trình xây dựng không phép như bản án sơ thẩm là có cơ sở.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 26, Điều 147, Điều 148, Điều 156, Điều 293, Điều 296, Điều 306, Khoản 1 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 9, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 12, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Mạnh T1 trong hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh T1. Giữ nguyên toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 559/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Minh T đối với bị đơn là ông Nguyễn Mạnh T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Mạnh T1 và vợ là bà Huỳnh Thị Sa P có trách nhiệm trả lại cho Đào Minh T và bà Nguyễn Thị T2 phần đất có diện tích 43.8m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 (tài liệu BĐĐC), tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí trên bảng ghi chú diện tích thuộc số (4) và (5) hiện trạng tỉ lệ 1/500 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H lập ngày 09/10/2019.
  3. Kiến nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét xử lý công trình xây dựng không phép trên đất nông nghiệp có diện tích 43.8m², thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 138 (tài liệu BĐĐC), tương ứng một phần thửa 309, tờ bản đồ số 10 (tài liệu 02/CT-UB) xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Mạnh T1 phải chịu án phí là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. H1 lại cho ông Đào Minh T số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0046435 ngày 27/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Mạnh T1 phải nộp là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0020592 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Ông Nguyễn Mạnh T1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao tại TP.HCM;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND huyện Bình Chánh;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 348/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Minh Trung - Nguyễn Mạnh Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger