Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 348/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22/12/2025

Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
  • Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 232/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Ấp M, xã S, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hồ Chiến E, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Ấp M, xã S, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2012, chị và anh Hồ Chiến E tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau một thời gian mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 25/6/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp M, xã S, tỉnh An Giang).

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2023 giữa chị và anh Chiến E phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không còn tiếng nói chung, không khí gia đình căng thẳng không thể giải quyết được, gia đình hai bên có khuyên răng, nhưng tình hình không thay đổi, nên chị và anh Chiến E đã ly thân với nhau. Vì các lý do trên, chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, chị muốn giải quyết cuộc hôn nhân này để mỗi người có tương lai tốt đẹp hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Chiến E.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh C Em có bốn người con chung tên Hồ Quốc N, sinh ngày 05/3/2013; Hồ Phi Â, sinh ngày 25/10/2014; Hồ Phi Á, sinh ngày 29/7/2016 và Hồ Quốc B, sinh ngày 16/4/2019. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Hồ Quốc B đến tuổi trưởng thành. Chị đồng ý giao ba con chung tên Hồ Quốc N, Hồ Phi Â, Hồ Phi Á cho anh C Em được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị L xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh Chiến E không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Chiến E:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho người nhận là là bà Mai Thị M - mẹ ruột của anh Chiến E, bà M cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh Chiến E, nhưng anh Chiến E đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Chiến E đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Tuyết L yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Hồ Chiến E. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Hồ Chiến E có nơi cư trú hiện nay tại ấp M, xã S, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hồ Chiến E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị Tuyết L và anh Hồ Chiến E tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau một thời gian mới đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 25/6/2015. Như vậy, hôn nhân giữa chị L với anh Chiến E là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn với anh Chiến E thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị L và anh Chiến E có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị L cho rằng do chị và anh Chiến E bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, không còn tiếng nói chung, không khí gia đình căng thẳng không thể giải quyết được, gia đình hai bên có khuyên răng, nhưng tình hình không thay đổi, nên chị và anh Chiến E đã ly thân với nhau. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị L bỏ qua mọi chuyện, cho anh C Em thêm cơ hội để đoàn tụ gia đình, cùng nuôi dạy con cái, nhưng chị L vẫn kiên quyết ly hôn với anh Chiến E. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C Em thông qua người nhận là bà Mai Thị M - mẹ ruột của anh Chiến E nhiều lần, bà M cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh Chiến E, nhưng anh Chiến E vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh Chiến E cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L.

Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị L với anh Chiến E đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị L yêu cầu được ly hôn với anh Chiến E là có cơ sở.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh Chiến E.

[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị L và anh C Em có bốn người con chung tên Hồ Quốc N, sinh ngày 05/3/2013; Hồ Phi Â, sinh ngày 25/10/2014; Hồ Phi Á, sinh ngày 29/7/2016 và Hồ Quốc B, sinh ngày 16/4/2019. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Hồ Quốc B đến tuổi trưởng thành. Chị đồng ý giao ba con chung tên Hồ Quốc N, Hồ Phi Â, Hồ Phi Á cho anh C Em được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX xét thấy, hoàn cảnh kinh tế của chị L và anh Chiến E đều khó khăn, nếu trường hợp giao bốn cháu cho một người nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo về điều kiện sinh sống. Chị L yêu cầu được nuôi cháu Hồ Quốc B, vì cháu đang sinh sống với chị và là cháu nhỏ nhất trong gia đình, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, nên yêu cầu này của chị L là thỏa đáng. Còn cháu Hồ Quốc N, Hồ Phi Â, Hồ Phi Á là ba cháu lớn, hiện nay có thể chăm sóc bản thân và phụ giúp việc lặt vật ở gia đình, hiện tại đang sống bên nội, nên chị L đồng ý giao cho anh C Em tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị L.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị L xác nhận giữa chị và anh Chiến E không tài sản chung và nợ chung, nên chị L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết L được ly hôn với anh Hồ Chiến E.
  2. Về quan hệ con chung:
    • Giao cháu tên Hồ Quốc B, sinh ngày 16/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Tuyết L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • Giao các cháu tên Hồ Quốc N, sinh ngày 05/3/2013; Hồ Phi Â, sinh ngày 25/10/2014; Hồ Phi Á, sinh ngày 29/7/2016 cho anh Hồ Chiến E được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Nguyễn Thị Tuyết L, anh Hồ Chiến E nuôi con; chị L, anh Chiến E được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết L xác định giữa chị và anh Hồ Chiến E không tài sản chung và nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007805 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị L không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 4 - An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - UBND xã Sơn Kiên, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 348/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết L kiện Hồ Chiến E
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger