TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 348/2024/DS-ST Ngày: 06-9-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Hồng;
- Bà Huỳnh Thị Lệ Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 329/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 435/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 206/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Trụ sở: Lầu 8, số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật Kinh K, Theo giấy ủy quyền số 5382/2024/UQ-TGĐ ngày 18/3/2024 (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Thế Hữu Q, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2023 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Nhật Kinh K - đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/3/2018ông Dương Thế Hữu Q1 ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.362.160đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.600.000đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Q thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng đến thời điểm hiện tại ông Q vẫn chưa thanh toán dư nợ của thẻ tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ vào ngày 01/9/2018và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 21.509.286đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ôngDương Thế Hữu Q2 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Dương Thế Hữu Q phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 06/9/2024 là 72.331.442đồng (Bảy mươi hai triệu, ba trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm bốn mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 21.509.286đồng; lãi quá hạn là 50.822.156đồng. Ngoài ra ông Q phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Q không nộp tài liệu, chứng cứ cũng như không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án, vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng và phiên tòa hôm nay.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay mà không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- - Về nội dung: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với ông Dương Thế Hữu Q, việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán về tiền nợ gốc và lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết của Tòa án và tư cách tham gia tố tụng của đương sự:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ thẻ tín dụng nên có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Về thẩm quyền: Căn cứ Hợp đồng tín dụng được ký kết ngày 06/9/2018 giữa các bên thể hiện địa chỉ của bị đơn được ghi trong hợp đồng là 102 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2023 nguyên đơn cũng xác định địa chỉ của bị đơn là A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ tại Điều 10 quy định Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng các bên đã ký kết quy định: “Chủ thẻ cam kết thông báo ngay lập tức cho đơn vị phát hành thẻ về bất kỳ sự thay đổi về thông tin của Chủ Thẻ bao gồm bất kỳ phương thức liên lạc nào khác mà đơn vị phát hành thẻ có thể liên lạc với Chủ Thẻ ngoại trừ tất cả những gì được ghi trong Giấy đề nghị”. Vì vậy, địa chỉ nơi cư trú của bị đơn được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản được xác định là địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xét ông Nguyễn Nhật Kinh K, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Dương Thế Hữu Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với ông Dương Thế Hữu Q được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ vào nội dung tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp đối với thẻ tín dụng của ông Dương Thế Hữu Q thể hiện trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng từ ngày 31/3/2018 (ngày phát sinh giao dịch đầu tiên) đến nay, ông Q đã giao dịch với tổng số tiền là 19.362.160đồng, ông Q chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.600.000đồng. Kể từ ngày 01/9/2018Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Như vậy, số dư nợ gốc phát sinh từ thẻ tín dụng của ông Q còn nợ là 21.509.286đồng. Căn cứ Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định: “Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông Báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng. Trong Trường Hợp này, toàn bộ tổng Dư N sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và Chủ Thẻ phải thanh toán”, như vậy ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc Ngân hàng yêu cầu ông Q thanh toán toàn bộ dư nợ gốc phát sinh còn lại chưa thanh toán trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng với số tiền là 21.509.286đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.2.] Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:
Căn cứ vào Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định: “Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ...áp dụng lãi suất nợ quá hạn...”, nên Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q kể từ ngày 01/9/2018đồng thời chuyển toàn bộ số dư nợ gốc cuối kỳ chưa thanh toán sang áp dụng lãi suất nợ quá hạn bắt đầu từ ngày 01/9/2018là có cơ sở chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn là 50.822.156đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Như vậy, lãi suất sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông Dương Thế Hữu Q thanh toán xong khoản nợ, theo mức lãi suất và mức phí quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà các bên đã thỏa thuận.
Do thời hạn bị đơn không thanh toán số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP S đã lâu làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay số tiền còn thiếu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- - Căn cứ Điều 91; Điều 98 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Dương Thế Hữu Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 72.331.442đồng (Bảy mươi hai triệu, ba trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm bốn mươi hai đồng), [Trong đó: Nợ gốc là: 21.509.286(Hai mươi mốt triệu, năm trăm lẻ chín ngàn, hai trăm tám mươi sáu) đồng; lãi quá hạn là 50.822.156(Năm mươi triệu, tám trăm hai mươi hai ngàn, một trăm năm mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Thế Hữu Q phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.616.572 (Ba triệu, sáu trăm mười sáu nghìn, năm trăm bảy mươi hai) đồng.
H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.533.712 (Một triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, bảy trăm mười hai) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2023/0035127 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nhất Dũng |
Bản án số 348/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 348/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Ngân hàng S - Bị đơn Dương Thế Hữu Q
