Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 348/2024/HS-PT

Ngày 19 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường và ông Nguyễn Tất Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Hải Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 275/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Duy H do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Đỗ Duy H (tên gọi khác C), sinh năm 1984 tại Hà Nội; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thiện T và bà Nguyễn Thị N; có vợ Đỗ Thị Bích L và 02 con: Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/02/2010, bị Công an phường T, quận L, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”; ngày 31/7/2016, bị Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”; bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H từ ngày 31/5/2023 cho đến nay. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Anh T1 - Luật sư Công ty L5 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)

- Bị hại: Anh Hà Vũ L1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Duy H (tên gọi khác C) và anh Lê Mạnh T2, sinh năm 1981; trú tại thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội là người cùng xã nên có quan hệ quen biết nhau. Năm 2014, H vay của anh T2 số tiền 10.000.000 đồng nhưng đến hạn không trả. Anh T2 đã nhiều lần liên lạc với H để đòi tiền nhưng H đều khất nợ và tránh gặp mặt, không trả nợ cho anh T2. Do không gặp được, gọi điện thoại đòi tiền, H không nghe máy nên anh T2 nhờ anh Hà Vũ L1 là nhân viên làm việc tại quán bia của vợ chồng anh T2 gọi điện thoại cho H để đòi tiền hộ cho anh T2.

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 08/12/2016, tại quán bia của vợ chồng anh T2 ở thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, anh L1 gọi điện thoại cho H nói về việc mang tiền đến trả nợ cho anh T2. Khi nghe anh L1 nói vậy, H chửi: “Đ.m mày, khi nào tao về tao xuống, không phải gọi” rồi tắt điện thoại. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H mang theo 01 con dao (loại dao mũi nhọn, lưỡi sắc, chuôi nhựa, dài khoảng 30cm) cất trong người rồi điều khiển xe máy đi đến quán bia của gia đình anh T2, nơi anh L1 đang làm việc. Đến nơi, H dựng xe máy ngoài cửa quán, đi bộ đến chỗ anh L1 đang ngồi ở bàn uống bia, kê ở phía trong của quán. H kéo ghế nhựa ngồi bên cạnh và đưa anh L1 số tiền 1.200.000 đồng, nói là trả trước. Anh L2 nhận số tiền trên, rồi đặt trên mặt bàn, dưới chiếc điện thoại Iphone 5 của anh L2. Lúc này, H hỏi anh L2 “Làm gì mày phải gọi cho tao”, anh L2 nói lại về việc H chửi anh L2 qua điện thoại. H nói “Khi nào có, tao sẽ tự mang xuống trả” đồng thời chửi anh L2, yêu cầu anh L2 không được gọi cho H nữa. Anh L2 nói lại “Làm đéo gì chỗ anh em phải như vậy”, H nói “Tao thích vậy đấy”. Ngay sau đó, H vòng tay trái ghì cổ anh Linh, dùng tay

phải cầm con dao đâm liên tiếp 04 đến 05 nhát vào vùng ngực, bụng và đùi của anh L2, vừa đâm H vừa nói “Hôm nay tao cho mày chết”. Bị đâm, anh L2 vùng người thoát ra, cầm 02 chiếc điếu cày bằng tre ở bàn uống nước để chống trả lại nên H bỏ chạy ra ngoài cửa quán bia. Cùng lúc này, chị Phạm Thị L3 là vợ anh T2 chủ quán bia nghe thấy tiếng xô xát đánh nhau nên chạy đến. Chị L3 thấy anh L2 bị thương chảy máu, còn H cầm dao đứng bên ngoài đang xông vào để đâm anh L2 nên đã ngăn cản và kéo cửa xếp lại, không cho H vào trong quán. Do bị chảy máu nhiều và sợ bị H đâm tiếp, anh L2 đi vào trong nhà anh T2 ở phía sau quán bia để trốn. Khi thấy chị L3 đi vào trong nhà sơ cứu vết thương cho anh L2, H mở cửa xếp đi vào trong quán lấy số tiền 1.200.000 đồng và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng của anh L2 để bên trên tập tiền ở bàn rồi bỏ đi. Khi đi được khoảng 300m, đến ngang nhà anh Lê Văn M ở thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, H ném chiếc điện thoại của anh L2 trước cửa nhà anh M rồi đi về. Còn anh L2 được chị L3 cùng mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện V, đến ngày 31/12/2016 được ra viện.

Sau khi phạm tội, Đỗ Duy H bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 31/5/2023, H đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G bắt giữ theo Quyết định truy nã để điều tra về tội Giết người.

Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xác định hiện trường, thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định pháp y về thương tích để xác định tỉ lệ tổn hại sức khỏe của anh Hà Vũ L1. Kết quả như sau:

Tại biên bản xác định hiện trường hồi 09 giờ ngày 09/12/2016 tại thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, thể hiện:

“... Hiện trường vụ án xảy ra ngày 08/12/2016 được xác định tại cửa hàng bán bia hơi Hà Nội của vợ chồng anh Lê Mạnh T2 và chị Nguyễn Thị L4, ở thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Cửa hàng B được xây tường, lợp mái tôn có bề rộng 12m, sâu 06m. Mặt cửa trước gồm 02 cửa sắt kéo hướng về phía Đông và tiếp giáp đường thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Phía sau, hướng Tây để thoáng, thông với sân nhà anh T2, chị L4. Phía Tây Nam có 01 nhà ngang nhỏ. Phía Bắc trong cửa hàng là khu vực bếp, vòi nước và nhà vệ sinh.

Tại vị trí trung tâm giữa cửa hàng kê 01 bàn gỗ khung sắt, có kích thước (0,77x1,4x0,6)m. Xung quanh bàn kê một số ghế nhựa màu xanh, có tựa lưng. Bàn gỗ cách cửa trước 2,5m, cách mép sân 02m và cách chỗ vòi rửa rau 2,5m.

Theo lời khai của chị Nguyễn Thị L4 mô tả: Khi xảy ra sự việc, H dùng dao đâm anh L1 tại vị trí 02 ghế nhựa kê sát cạnh góc bàn phía ngoài bên phải (tính từ trong nhìn ra). Khi đó, anh L1 ngồi sát góc bàn, mặt quay ra cửa, H ngồi cạnh bên phải của anh L1. Khi H dùng dao đâm anh L1 tư thế cả hai vẫn ngồi tại vị trí như trên. Lúc này, chị L4 đang ngồi rửa rau tại vòi nước cách đó khoảng 03m có nhổm dậy xem đã chứng kiến sự việc trên. Tại vị trí xảy ra sự việc, không phát hiện, thu

giữ dấu vết máu hay dấu vết liên quan khác. Theo chị L4 trình bày, do sau khi xảy ra sự việc, chị L4 đã xả nước rửa sạch vết máu trên nền nhà, nên không còn dấu vết để thu giữ”.

Vật chứng vụ án: Quá trình xác định hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, dấu vết, đồ vật, tài sản liên quan, gồm:

  • - Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường: 02 chiếc điếu cày bằng tre (mỗi chiếc dài 60cm, đường kính 04cm và phần đầu điếu bọc kim loại màu vàng).
  • - Thu giữ do anh Lê Văn M giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng (xác định là tài sản của anh Hà Vũ L1).
  • - Đối với con dao (mũi nhọn, lưỡi sắc, chuôi nhựa, dài khoảng 30cm) H sử dụng đâm anh L1, H khai đã vứt bỏ trên đường bỏ chạy, không rõ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 123/TTPY ngày 22/02/2017 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố H, kết luận về tỉ lệ tổn hại sức khỏe của anh Hà Vũ L1 như sau: “... VI. Kết luận tại thời điểm giám định: Các sẹo vết thương, vết mổ: 10%; tổn thương màng phổi bên trái đã phẫu thuật dẫn lưu: 03%; tổn thương gan đã phẫu thuật cắt bỏ một thùy gan trái: 61%; thủng dạ dày hai mặt đã khâu: 31%; thủng cơ hoành đã khâu: 21%; cắt lách bán phần cực dưới: 24%; nhiều khả năng các thương tích do vật sắc gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 86%, tính theo phương pháp cộng lùi”.

Tại bản Kết luận định giá số 26/KL-HĐĐG ngày 17/4/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện G, kết luận: “... 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5, màu trắng (đã qua sử dụng) có giá trị là 2.000.000 đồng”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm e, n khoản 1 Điều 123 và điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57 (tội Giết người); Điều 54 (tội Cướp tài sản); Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Duy H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người” và 05 (năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đỗ Duy H phải chấp hành hình phạt chung là 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 31/5/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 22/01/2024, bị hại Hà Vũ L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo, với lý do sức khỏe của bị hại đến nay đã hoàn toàn bình phục và lao động tốt.

Ngày 25/01/2024, bị cáo Đỗ Duy H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo cáo Đỗ Duy H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và được bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với tội Giết người bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; tội Cướp tài sản, tài sản bị chiếm đoạt không nhiều; ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ và xuất ngũ về địa phương, có bố mẹ đẻ và bố vợ là ông Đỗ Văn M1 nhiều năm phục vụ trong quân đội được xuất ngũ và phục viên, hiện tại bố mẹ bị cáo đều cao tuổi và ốm đau bệnh tật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giảm cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Giết người”, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo được hưởng thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới. Xét thấy, do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo có suy nghĩ tích cực, cải tạo tốt, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở về làm người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư và xin được giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại gửi trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Duy H và bị hại Hà Vũ L1 về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người liên quan, kết luận giám định thương tích, kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Xuất phát từ việc bị cáo Đỗ Duy H vay tiền của anh Lê Mạnh T2 nhưng không trả nên anh T2 đã nhờ anh Hà Vũ L1 gọi điện thoại cho bị cáo để đòi tiền hộ. Khoảng 16 giờ ngày 08/12/2016, bị cáo H đi xe máy đến quán bia nơi anh L1 đang làm việc ở thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Tại đây, bị cáo H ngồi bên cạnh anh L1 và đưa cho anh L1 số tiền 1.200.000 đồng để trả cho anh T2. Do bức xúc về việc bị anh L1 gọi điện thoại đòi tiền lại còn chửi bới, đe dọa nên bị cáo vòng tay trái ghì cổ anh Linh, tay phải cầm 01 con dao (mũi nhọn, dài khoảng 30cm) đâm liên tiếp 04 đến 05 nhát vào vùng ngực, bụng, đùi của anh L1 và nói “Hôm nay tao cho mày chết”. Anh L2 bị đâm nên vùng ra cầm 02 chiếc điếu cày bằng tre đánh lại bị cáo, bị cáo lùi ra khỏi cửa quán thì được mọi người can ngăn. Khi thấy anh L2 đi vào phía sau nhà để sơ cứu vết thương, H đã lấy lại số tiền 1.200.000 đồng và chiếm đoạt của anh L2 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng trị giá 2.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Hậu quả: Anh Hà Vũ L1 bị thương tích, tổn thương gân, phổi, dạ dày, gan... nên tổn hại 86% sức khỏe.

[2.2] Với hành vi nêu trên, khẳng định giữa bị cáo và bị hại Hà Vũ L1 trước khi gặp nhau tại quán bia nhà anh T2, hai bên không có mâu thuẫn gì, đến khi bị cáo và bị hại ngồi nói chuyện tại quán bia thì giữa hai bên mới xảy ra to tiếng. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, mà trong lúc cãi nhau, bị cáo đã rút dao mang sẵn đâm nhiều nhát vào người anh L1, gây tổn thương gân, phổi, dạ dày, gan..., là vùng trọng yếu trên cơ thể anh L1 ở cự ly gần, nhằm tước đoạt tính mạng của anh L1. Việc anh L1 không chết là do được sơ cứu, đưa đi cấp cứu kịp thời, nằm ngoài ý chí chủ quan của bị cáo. Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện có tính chất đặc biệt nghiêm trọng và ngay sau đó lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng; trực tiếp đe dọa tính mạng, xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu và tâm lý lo sợ trong nhân dân nên. Với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Giết người” và tội “Cướptài sản” với tình tiết định khung hình theo quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 123 và điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân không tốt, nhưng từ khi thực hiện hành vi phạm tội 2016 cho đến nay, bị cáo không vi phạm pháp luật nên không phải chịu tình tiết tăng nặng.Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu

quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại kháng cáo tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định bị cáo đã có thời gian 02 năm phục vụ trong quân ngũ và được xuất ngũ về địa phương, có bố mẹ đẻ và bố vợ là ông Đỗ Văn M1 nhiều năm tham gia trong quân đội được xuất ngũ và phục viên, ông M1 được tặng Bằng khen; hiện tại bố mẹ bị cáo đều cao tuổi và ốm đau bệnh tật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về các tội “Giết người” và “Cướp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt như viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, vì bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, tội “Cướp tài sản”, do tài sản bị chiếm đoạt không nhiều. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy việc bị hại, bị cáo, người bào chữa đề nghị giảm hình phạt tù cho bị cáo là có cơ sở nên cần chấp nhận kháng cáo của bị hại và bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm nêu trên theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta, giúp cho bị cáo có suy nghĩ tích cực, cải tạo tốt, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Duy H và bị hại Hà Vũ L1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Áp dụng điểm e, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Duy H 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”.

Áp dụng diểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Duy H 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đỗ Duy H phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 31/5/2023.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí: Bị cáo Đỗ Duy H và bị hại Hà Vũ L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - TTG số 1 - CA thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua trại), bị hại;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2024/HS-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (giết người và cướp tài sản)

  • Số bản án: 348/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người và Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger