Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 348/2025/DS-ST

Ngày 23-6-2025

V/v tranh chấp Hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  • 2. Ông Huỳnh Văn Sơn

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1074/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2025/QĐXXST–DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 172/2025/QÐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1)

Địa chỉ: A P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quang N (có mặt)

Bị đơn: Bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P (vắng mặt)

Địa chỉ: D ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/8/2024, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) đã ký với bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P hợp đồng tín dụng chi tiết như sau:

Tổng hạn mức cấp tín dụng: 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng theo Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0004/1322 ngày 09/3/2022, gồm:

  • - Số tiền vay: 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng
  • - Lãi suất: 8%/năm (lãi suất cố định 12 tháng đầu, được điều chỉnh từ tháng thứ 13 trở đi theo định kỳ hàng tháng).
  • - Thời hạn vay: 10/3/2022 đến ngày 10/3/2042

Mục đích vay: H vốn tiền mua bất động sản tại địa chỉ Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Trong quá trình vay, bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P trả được tổng số tiền như sau:

Vốn gốc: 225.450.000 (Hai trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng.

Lãi trong hạn: 426.548.144 (Bốn trăm hai mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi tám ngàn một trăm bốn trăm bốn) đồng.

Lãi quá hạn: 344.498 (Ba trăm bốn mươi bốn ngàn bốn trăm chín tám) đồng.

Tổng cộng: 652.342.642 (Sáu trăm năm mươi hai triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi hai) đồng.

Tài sản thế chấp là bất động sản tọa lạc tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 7 tại Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc sở hữu của bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX844121, số vào sổ cấp GCN số CS05961 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cập nhật ngày 07/8/2020 đã thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo vay vốn theo Hợp đồng thế chấp số K.0007/TC22 ngày 09/3/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định pháp luật.

Do bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ vay sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) yêu cầu bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu (gồm vốn và lãi) tạm tính đến hết ngày 23/6/2025 là 1.980.900.435 (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu chín trăm ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng, bao gồm nợ gốc 1.774.550.000 (Một tỷ bảy trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm năm mươi ngàn) đồng, nợ lãi 206.350.435 (Hai trăm lẻ sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 24/6/2025 đến ngày bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0004/1322 ngày 09/3/2022.

Nếu bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 7 tại Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L Tuyết Sương và ông Trần Văn P thì bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu (gồm vốn và lãi) tạm tính đến hết ngày 23/6/2025 là 1.980.900.435 (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu chín trăm ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 24/6/2025 đến ngày bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0004/1322 ngày 09/3/2022.

Nếu bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 7 tại Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L Tuyết Sương và ông Trần Văn P thì bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Về phía bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) với bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại D ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho bà S, ông P nhưng bà S, ông P vẫn không có mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[3] Theo lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì vào ngày 09/3/2022, bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P do có nhu cầu hoàn vốn tiền mua bất động sản nên có ký với Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0004/1322 với số tiền vay 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng. Bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P đã trả được tổng số tiền 652.342.642 (Sáu trăm năm mươi hai triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi hai) đồng, gồm vốn gốc: 225.450.000 (Hai trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng và tiền lãi 426.892.642 (Bốn trăm hai mươi sáu triệu tám trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi hai) đồng. Do bà S, ông P vi phạm cam kết không thực hiện việc thanh toán như hợp đồng đã thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp.

Trong quá trình tố tụng, do bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không đến Tòa để cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không thanh toán tiền cho Ngân hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 1.980.900.435 (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu chín trăm ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng, bao gồm nợ gốc 1.774.550.000 (Một tỷ bảy trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm năm mươi ngàn) đồng và nợ lãi 206.350.435 (Hai trăm lẻ sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 24/6/2025 theo mức lãi suất được thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Bà S, ông P không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L Tuyết Sương và ông Trần Văn P thì bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P vắng mặt, không có lời khai, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P phải trả lại cho nguyên đơn T (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng mà nguyên đơn đã tạm ứng trước là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị đơn bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1):

Buộc bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 1.980.900.435 (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu chín trăm ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 24/6/2025 theo mức lãi suất được thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.

Nếu bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P không thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 7 tại Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L Tuyết Sương và ông Trần Văn P thì bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P chịu án phí dân sự sơ thẩm là 71.427.013 (Bảy mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi bảy ngàn không trăm mười ba) đồng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bà Lâm Tuyết S và ông Trần Văn P phải trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S1) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 33.134.594 (Ba mươi ba triệu một trăm ba mươi bốn ngàn năm trăm chín mươi bốn) đồng cho Ngân hàng TMCP Đ (nay là Ngân hàng TNHH MTV S2) theo biên lai thu tiền số 0047561 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đại diện nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND H.HM;
  • - Chi Cục THADS H.HM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 348/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger