Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 348/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 27 tháng 5 năm 2024

V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Bà Lê Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Dương Ly L, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 9 T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 .

Địa chỉ: E Q, tổ E, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Dương Ly L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau từ năm 2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngày 15/10/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại: E Q, tổ E, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 năm đầu hòa thuận hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không làm ăn gì suốt ngày chơi game và lấy đồ của chị đi bán lấy tiền chơi lô đề, cờ bạc. Việc anh T chơi bời như vậy nên vợ chồng không đủ kinh tế trang trải trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mỗi khi anh T đi chơi về chị L có nói thì anh T lại tát, đấm chị L. Việc chị L và anh T thường xuyên mâu thuẫn như vậy thì có bố mẹ anh T và gia đình chị L biết nhưng không giải quyết được nên chị L bất lực không thể chung sống cùng anh T nên khoảng năm 2015 chị L đã tự ý bỏ ra khỏi nhà không chung sống cùng anh T nữa. Việc anh T trình bày chị L có tình cảm với người đàn ông khác là không đúng vì sau khi chị L phải bỏ ra ngoài sống thì chị có ngồi chơi bời với bạn bè nên anh T ghen tuông vô cớ chứ không có việc chung sống với người khác. Nay chị L xác định chị và anh T đã sống ly thân nhau lâu nên chị không còn tình cảm với anh T và cương quyết xin ly hôn anh T.

Về con chung: Chị L xác nhận chị và anh T có 02 con chung là:

  1. Nguyễn Hoàng Tuấn T1 (nam), sinh ngày 13/7/2011.
  2. Nguyễn Hoàng Tuấn K ( nam ), sinh ngày 07/3/2013.

Kể từ khi chị L bỏ ra ngoài sống thì các con chung của chị L vẫn do anh T nuôi dưỡng và hiện nay do chị L vẫn đang phải đi thuê nhà để sống. Ly hôn chị L đồng ý để anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị L sẽ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng là 5.000.000 đồng ( mỗi con chung 2.500.000 đồng ). Khi chị L bỏ ra ngoài sống thì hàng tháng chị L vẫn gửi tiền cho mẹ đẻ anh T để bà phụ giúp cùng anh T nuôi dưỡng các con chung của chị và anh T. Còn sau này khi chị L nộp đơn xin ly hôn thì chị có gọi điện cho anh T để chị và anh T thống nhất thoả thuận về việc cấp dưỡng nuôi con chung cụ thể: Hàng tháng chị L sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T là 5.000.000 đồng và thoả thuận này đến nay chị L vẫn đang thực hiện.

Về tài sản chung ( động sản, bất động sản ): Chị L xác nhận chị và anh T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị L xác nhận chị và anh T không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị L đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

*Tại bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T2 xác nhận về thời gian kết hôn, nơi chung sống giữa anh và chị L như chị L trình bày là đúng.

Quá trình chung sống vợ chồng thì giữa anh và chị L đã phát sinh mâu thuẫn nhưng vào thời gian nào thì đến nay anh T2 không nhớ. Quá trình chung sống vợ chồng anh T2 có đánh chị L như chị L trình bày là đúng nhưng không phải do anh T2 chơi bời mà do chị L có tình cảm với người khác anh T2 nhìn thấy nên đã đánh chị L. Sự việc trên anh T2 có nói chuyện với gia đình hai bên và bản thân chị L nhưng vẫn không cải thiện được tình cảm vợ chồng. Việc chị L có tình cảm với người khác là do anh T2 chỉ nhìn thấy chị L ngồi với người đàn ông khác chứ chưa có tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Sau đó đến khoảng năm 2014 chị L đã tự ý bỏ nhà đi ở chỗ khác và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay anh T2 xác nhận vẫn còn tình cảm với chị L và các con của anh chị còn nhỏ nên không đồng ý ly hôn và mong muốn chị L quay về đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về con chung: Anh T2 xác nhận anh và chị L có 02 con chung như chị L trình bày là đúng. Trường hợp nếu phải ly hôn thì anh T2 đồng ý nhận nuôi dưỡng 02 con chung như nguyện vọng của các cháu và đồng ý để chị L cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng là 5.000.000 đồng ( mỗi con chung là 2.500.000 đồng.

Về tài sản chung ( động sản, bất động sản ): Anh T2 xác nhận anh và chị L không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết .

Về công nợ chung: Anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Anh T2 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị L vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành theo các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Dương Ly L đối với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Xác nhận chị L và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn T1 (nam), sinh ngày 13/7/2011 và Nguyễn Hoàng Tuấn K (nam), sinh ngày 07/3/2013; Giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn T1 và Nguyễn Hoàng Tuấn K. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng là 5.000.000 đồng ( mỗi con chung 2.500.000 đồng ) kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác ; Về tài sản chung, công nợ chung : Chị L, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Văn T. Anh T2 hiện đang cư trú tại: E Q, tổ E, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Dương Ly L và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 15/10/2010. Hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia xẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của chị L và anh T thể hiện: Trong cuộc sống hôn nhân chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, không có sự cảm thông, chia xẻ với nhau. Chị L và anh T sống ly thân với nhau đã lâu, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải, nhưng không có kết quả. Mặt khác qua xác minh tại tổ dân phố nơi chị L, anh T cư trú cũng đã xác định hiện nay chị L và anh T không chung sống cùng nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh T xác nhận vẫn còn tình cảm với chị L nên không đồng ý ly hôn, mong muốn chị L quay về đoàn tụ gia đình nhưng bản thân anh T không đưa ra được phương án cải thiện tình cảm vợ chồng, từ đó thấy rằng anh T cũng tự nhận thức được mâu thuẫn của vợ chồng, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy lý do anh T không đồng ý ly hôn là không phù hợp với Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T là có căn cứ chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị L, anh T đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn T1 (nam), sinh ngày 13/7/2011 và Nguyễn Hoàng Tuấn K ( nam), sinh ngày 07/3/2013. Hiện nay cả 02 con chung của chị L, anh T đang chung sống cùng anh T. Ly hôn chị L, anh T thống nhất thỏa thuận để anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung và chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng mỗi tháng 5.000.000 đồng. Xét yêu cầu nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị L, anh T Hội đồng xét xử xét thấy: Sự thống nhất thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị L, anh T là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến nguyện vọng của 02 con chung nên căn cứ vào Điều 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình cần được ghi nhận.

[2.3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị L, anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về công nợ: Chị L, anh T xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Dương Ly L đối với anh Nguyễn Văn T.

Chị Đỗ Dương Ly L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2.Về con chung: Xác nhận chị Đỗ Dương Ly L và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn T1 (nam), sinh ngày 13/7/2011 và Nguyễn Hoàng Tuấn K ( nam ), sinh ngày 07/3/2013. Ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của chị L, anh T về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn T1 và Nguyễn Hoàng Tuấn K. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng là 5.000.000 đồng ( mỗi con chung 2.500.000 đồng ) kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Chị L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị L, anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về công nợ: Chị L, anh T xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Đỗ Dương Ly L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị L đã nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0014815 ngày 05/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông. Chị L còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị L, vắng mặt anh T. Chị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Phú Lãm, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2024/HNGĐ - ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 348/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Dương Ly L và anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger