Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 348/2024/HS-ST

Ngày 11 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

2/ Ông Phan Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 306/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 307/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Công M, sinh năm 1991 tại tỉnh An Giang; HKTT: A188/2, tổ G, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Không cố định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Doanh T, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1965 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án:

  • - Ngày 25/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 30/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam, giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày ngày 06 tháng 3 năm 2024 (Có mặt)

- Bị hại: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Vũ Xuân T2, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số I, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

2. Ông Vũ Xuân T3, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số I, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công M là người không có nghề nghiệp và đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Do cần tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ 45 phút ngày 06/03/2024, M điều khiển xe mô tô biển số 24K6-9194 đi quanh khu vực khu phố H, phường L, Tp . để trộm cắp tài sản. Lúc này, anh Vũ Xuân T3, ngụ tại tổ I, khu phố H, phường L, Tp . thấy M có biểu hiện nghi vấn nên đã gọi điện thoại cho em trai là anh Vũ Xuân T2, ngụ tại I, tổ I, khu phố H, phường L, Tp . cùng theo dõi M. Khi đến trước dãy phòng trọ không số thuộc tổ A, khu phố H, phường L, Tp . thì M dựng xe ngoài đường rồi đi đến phòng trọ số 04 do anh Bùi Văn T1, ngụ tại: xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang thuê ở trọ, do phòng không đóng cửa nên M nhìn vào trong phòng và phát hiện anh T1 đang nằm ngủ trên võng có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb dưới nền nhà. Thấy vậy, M lén đi vào phòng lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần bên trái rồi đi ra khỏi phòng thì bị anh T3 và anh T2 bắt giữ. Sau đó, anh T3 và anh T2 gọi anh T1 dậy và trình báo Công an phường L đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Công M, Công an phường L lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

- Vật chứng:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Bùi Văn T1.
  • + 01 xe mô tô biển số 24K6-9194, số máy VNF1P52FMH340156707, số khung VTKBCH0230M013007 là phương tiện của bị cáo Nguyễn Công M sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Cáo trạng số: 312/CT-VKSBH ngày 24/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Công M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công M: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Vật chứng:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã thu hồi và trả lại cho anh Bùi Văn T1.
  • + Tịch thu 01 xe mô tô biển số 24K6-9194, số máy VNF1P52FMH340156707, số khung VTKBCH0230M013007 là phương tiện của bị cáo Nguyễn Công M sử dụng vào việc phạm tội.

Về dân sự: Anh Bùi Văn T1 không yêu cầu bồi thường

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với qui định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó đã có căn cứ để kết luận: Ngày 06/03/2024, tại dãy phòng trọ không số, tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Công M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb trị giá 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Bùi Văn T1. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Công M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Xử lý vật chứng:

  • - Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Bùi Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb.
  • Tịch thu 01 xe mô tô biển số 24K6-9194, số máy VNF1P52FMH340156707, số khung VTKBCH0230M013007 là phương tiện của bị cáo Nguyễn Công M sử dụng vào việc phạm tội.

[5] Về dân sự: Anh Bùi Văn T1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu 01 xe mô tô biển số 24K6-9194, số máy VNF1P52FMH340156707, số khung VTKBCH0230M013007 là phương tiện của bị cáo Nguyễn Công M sử dụng vào việc phạm tội.

    (Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024).

    Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Bùi Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128Gb.

  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Công M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Bùi Văn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - CATP. Biên Hòa;
  • - THADS TP. Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 348/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 348/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 06/03/2024, tại dãy phòng trọ không số, tổ 19, khu phố 8A, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Công Minh đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 loại 128 Gb trị giá 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Bùi Văn Tuấn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger