trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2023

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng.

ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 266/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXX-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989.
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1982.
  • Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

(Nguyên đơn có mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1982 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 21/12/2011. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng sinh sống và làm việc tại xã Đ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong lối sống, sinh hoạt, nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng đều không có kết quả. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay, chị đã về ở nhờ nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã Đ, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị xin được ly hôn với anh C.

Về con chung: chị và anh Nguyễn Huy C có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả 02 con chung đều đang ở với chị. Nay ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Minh A và giao cháu Nguyễn Tuấn N cho anh C trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Huy C: hiện có hộ khẩu tại xóm E, thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt không lý do.

Tòa án đã lấy lời khai của anh Nguyễn Huy C tại nhà ở ngày 23/11/2023, anh C cho biết: anh và chị Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 21/12/2011. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến tháng 4 năm 2022 thì chị T bế con về nhà bố mẹ đẻ chơi và từ đó đến nay không về. Anh đã nhiều lần lên đón nhưng chị T không về. Nay chị T xin ly hôn, quan điểm của anh là không đồng ý vì vợ chồng không có mâu thuẫn gì, không muốn các con phải thiếu thốn tình cảm của bố mẹ. Còn nếu chị T kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả 02 con chung đều đang ở với chị T nhưng vẫn đi lại giữa hai bên vì nhà gần nhau. Trường hợp chị T kiên quyết xin ly hôn thì vấn đề con chung anh tôn trọng và đồng ý với nguyện vọng của chị T.

Về tài sản chung, công sức và nợ chung: anh C xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Lê Thị T1, sinh năm 1960 là mẹ đẻ của anh C ngày 23/11/2023, bà T1 cho biết:

Sau khi kết hôn năm 2011 vợ chồng anh C và chị T chung sống cùng nhà với bà tại thôn H, xã Đ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thỉnh thoảng anh C rượu vào lời ra không quan tâm đến vợ con, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 4 chị T xin phép bà về chơi thăm nhà bố mẹ đẻ ở thôn H, xã Đ nhưng từ đó đến nay không về. Giữa bà và chị T không có mâu thuẫn gì, tình cảm mẹ chồng nàng dâu vẫn tốt đẹp. Quan điểm của bà về việc chị T xin ly hôn, bà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả 02 con chung đều ở với chị T nhưng vẫn đi lại giữa hai bên vì nhà gần nhau. Trường hợp chị T kiên quyết xin ly hôn thì vấn đề con chung mong Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công sức và nợ chung: bà không nắm bắt được.

Tại Biên bản xác minh ngày 23/11/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ cung cấp:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 và anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1982 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 21/12/2011.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T và anh C sinh sống tại xã Đ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo nắm bắt được là do bất đồng trong quan điểm, lối sống nên vợ chồng xảy ra bất hoà. Hiện chị T không còn sống cùng anh C và gia đình chồng nữa mà về nhà bố mẹ đẻ của chị T ở nhờ. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh C, quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy C có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Đ theo Giấy khai sinh số 512/2013, quyển số 03/2013 ngày 16/11/2013 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Đ theo Giấy khai sinh số 38/2022, ngày 23/3/2023. Ngoài ra, chị T và anh C không thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con chung, con nuôi nào khác. Do con chung còn nhỏ nên đề nghị Toà án giải quyết để bảo đảm tốt nhất quyền lợi về mọi mặt cho các cháu.

Về tài sản chung, công sức và nợ chung của vợ chồng chị T và anh C địa phương không nắm bắt được. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn anh Nguyễn Huy C mặc dù được triệu tập và giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng tại phiên toà vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Huy C.

Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 cho anh C và giao con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của các bên đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công sức và nợ chung: chị T và anh C đều xác nhận không có và đều không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Huy C có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Tại phiên toà, anh Nguyễn Huy C mặc dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không có mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy C tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng trong quan điểm lối sống, thường xảy ra mâu thuẫn, dù đã tìm mọi biện pháp để hòa giải nhưng đều không có kết quả. Thực tế từ tháng 4 năm 2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Anh C xin đoàn tụ nhưng không có biện pháp tích cực để hàn gắn tình cảm, quá trình giải quyết anh đều không đến làm việc, chứng tỏ ý kiến đoàn tụ là không thực chất.

Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: xét yêu cầu của chị T về việc được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022 và giao cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 cho anh C nuôi dưỡng thì thấy: chị T và anh C đều có sức khoẻ bình thường, có khả năng tạo lập cuộc sống cho bản thân và người phụ thuộc. Hiện cháu Nguyễn Minh A đang ở với chị T và mới hơn 21 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, còn cháu Nguyễn Tuấn N đã 10 tuổi, có nguyện vọng xin ở với bố. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, anh C và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Nguyễn Minh A cho chị Nguyễn Thị T và giao cháu Nguyễn Tuấn N cho anh Nguyễn Huy C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của các bên đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công sức và nợ chung: chị T và anh C đều xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xét.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Huy C.
  2. Về con chung: xác nhận chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy C có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022.

    Giao con chung là cháu Nguyễn Tuấn N, sinh ngày 28/10/2013 cho anh Nguyễn Huy C và giao cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 19/3/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

    Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.

    Anh Nguyễn Huy C và chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy C đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 00039553 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
  5. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Đ (nơi đăng ký kết hôn);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 347/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 347/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger