|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 347/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26/8/2024
" V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh
Ông Lê Viết Hồng
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Đỗ Thị Thùy Anh-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 302/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn Phú Hữu, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, Hà Nội -
Bị đơn: Anh Lê Đình B, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội.
Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V.
Có mặt chị N, vắng mặt anh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh Lê Đình B đăng ký kết hôn ngày 19/10/2021 tại UBND xã T, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới chị về gia đình anh B làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình chồng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh B ham chơi không quan tâm đến gia đình vợ con. Tháng 4/2024 anh Ba b bắt về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng đến nay không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.
-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Lê Ngọc N1, sinh ngày 29/10/2021. Ly hôn chị xin được nuôi con và tự đảm nhiệm việc nuôi con.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/8/2024 bị đơn là anh Lê Đình B trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị N trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4/2024 anh bị bắt về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên vợ chồng chấm dứt tình cảm từ đó. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn, chị N làm đơn xin ly hôn anh đồng ý.
-Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị N trình bày. Ly hôn anh đề nghị để chị N nuôi con và anh xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:
- +Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Lê Đình B.
- +Về con chung: Giao con chung Lê Ngọc N1, sinh ngày 29/10/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- +Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra anh B có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị N và anh Lê Đình B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2021 tại UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống luôn bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa hôm nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh cũng xác định tình cảm vợ chồng đến nay cũng không còn, chị N xin ly hôn, anh đồng ý. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị được ly hôn anh B là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về nuôi con chung:
Quá trình chung sống anh chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Lê Ngọc N1, sinh ngày 29/11/2021. Tại phiên tòa chị N đề nghị xin được nuôi con.
Xét điều kiện hiện nay của anh B đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Hiện cháu N1 đang ở ổn định với chị N, điều kiện học hành cũng như sức khỏe của cháu đều được bảo đảm nên thấy cần tiếp tục giao cháu cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật .
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị N, anh Ba k đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28,35, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Lê Đình B.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Ngọc N1, sinh ngày 29/10/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Anh B được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, chị N không được ngăn cản.
- Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008851 ngày 30/7/2024.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị N được quyền kháng cáo. Anh B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 347/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 347/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngợi kết hôn với anh Ba, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ngợi xin ly hôn
