|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 347/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 8 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Á và ông Nguyễn Hữu Tố.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 787/2023/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thanh T, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Đặng Thanh T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Bà T có mặt, ông T1 vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phan Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông T1 tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường H ngày 30/10/2014. Trong thời gian chung sống mâu thuẫn sống vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không tôn trọng lẫn nhau nên thường hay cãi vã. Ông T1 làm nghề lái xe, ngoài những lúc đi làm ông T1 thường hay chơi bài bạc, số đề, nhậu say, bỏ bê vợ con. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông T1 vẫn tính nào tật nấy không thay đổi, còn chửi bới, xúc phạm, đánh đập bà. Từ khi kết hôn bà và ông T1 mỗi người ở một nhà, không sống chung cùng một nhà, chỉ có công gì thì mới qua lại, đến nay không còn liên lạc qua lại và không ai quan tâm gì đến ai nữa. Vì vợ chồng sống không hạnh phúc, do đó bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn. Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đặng Thanh P, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Đặng Thái K, sinh ngày 16/5/2022, sau ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 con chung như từ bấy lâu nay và không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn:
Ông Đặng Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông T1 . Giao cả 02 con chung là cháu Đặng Thanh P, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Đặng Thái K, sinh ngày 16/5/2022 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông T1 có địa chỉ tại khu phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
[1] Bà T và ông T1 tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường H ngày 30/10/2014 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống mâu thuẫn sống vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không tôn trọng lẫn nhau nên thường hay cãi vã. Vợ chồng không sống chung một nhà, đến nay không còn liên lạc qua lại và không còn quan tâm gì đến nhau nữa, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông T1 là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Đặng Thanh P, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Đặng Thái K, sinh ngày 16/5/2022. Sau ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Đặng Thanh P có nguyện vọng, mong muốn được ở với bà T để được nuôi dưỡng và học hành tốt hơn, cháu Đặng Thái K còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Còn ông T1 thì trong quá trình giải quyết vụ án không có văn bản nào ghi ý kiến của mình cung cấp cho Tòa án về việc yêu cầu được nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giải quyết giao cả 02 con chung là cháu Đặng Thanh P, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Đặng Thái K, sinh ngày 16/5/2022 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và đúng với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thanh T và ông Đặng Thanh T1 được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Giao cả 02 con chung là cháu Đặng Thanh P, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Đặng Thái K, sinh ngày 16/5/2022 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con
Ông T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà Phan Thị Thanh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Bà T đã nộp tạm ứng đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0000732 ngày 15/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn được tính trừ.
- Về kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được nhận hoặc được niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, để Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vinh |
Bản án số 347/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 347/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
