|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 347/2024/HS-ST Ngày: 13/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Phúc
2. Bà Lê Thị Huyền
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, TAND quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 328/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn Đ
(Tên khác: Không), sinh ngày 01/01/1973; Giới tính: Nam; HKTT: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ Bùi Văn M và Mẹ đẻ Trần Thị Á (đều đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị N, Sinh năm 1975; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009);
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an quận H, Thành Phố Hà Nội. D chỉ bản số 858 ngày 03/11/2024 lập tại Công an quận H. Có mặt
- Bị hại: Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1985, Địa chỉ: 26LK24 khu đô thị V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Có Đơn xin vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Ngọc Á1, sinh năm 1978; Địa chỉ: H, Q, Q, Thái Bình; Có Đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu, Bùi Văn Đ nảy sinh ý trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 23/10/2024, Đ một mình đi bộ đến khu vực cửa hàng T “Duy Thuận” của anh Hoàng Văn D1, SN 1985, địa chỉ: 26LK24 khu đô thị V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội để mua nước uống. Tại đây, Đ phát hiện thấy 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số seri: G6TCK2GMN70K, dung lượng bộ nhớ 256GB của anh Hoàng Văn D1 để trên mặt bàn gần cửa ra vào. Đát quan sát xung quanh không thấy người trông giữ bán hàng, Đ đã lấy chiếc điện thoại trên của anh D1 cất vào trong túi quần đang mặc và đi ra khỏi của hàng. Sau khi lấy được chiếc điện thoại của anh D1, Đ đi xe khách và mang chiếc điện thoại của anh D1 đến cửa hàng Điện thoại- Điện tử Ngọc Á1 ở Chợ H, thôn H, xã Q, tỉnh Thái Bình bán cho anh Đoàn Ngọc Á1, SN 1978 (là chủ cửa hàng) lấy số tiền 1.500.000 đồng, toàn bộ số tiền Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 25/10/2024, anh Hoàng Văn D1 đã đến Công an phường L, quận H trình báo về sự việc
Ngày 26/10/2024, tại Công an phường L, Bùi Văn Đ đã xin đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên.
Vật chứng thu giữ:
01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số seri: G6TCK2GMN70K, dung lượng bộ nhớ 256GB, đã qua sử dụng do anh Đoàn Ngọc Á1 tự nguyện giao nộp, là tài sản Bùi Văn Đ đã chiếm đoạt của anh Hoàng Văn D1.
Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Yêu cầu định giá tài sản số 9520 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H xác định giá tài sản là 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số seri: G6TCK2GMN70K, dung lượng bộ nhớ 256GB, đã thu giữ, là tài sản Bùi Văn Đ đã chiếm đoạt của anh Hoàng Văn D1 nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 171 ngày 27/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H, kết luận:
“- Giá trị thiệt hại tài sản 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số seri: G6TCK2GMN70K, dung lượng bộ nhớ 256GB, đã qua sử dụng, thu hồi được tang vật trị giá 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng).
Ngày 11/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã trả lại tài sản đã thu giữ cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Văn D1, anh D1 đã nhận tài sản.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn Đ đã tự nguyện khai nhận về hành vi của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 324/CT-VKS-HĐ ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy bị cáo Bùi Văn Đ về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận định giá, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/10/2024, tại số nhà B, Khu đô thị V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Bùi Văn Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Hoàng Văn D1 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số seri: G6TCK2GMN70K, dung lượng bộ nhớ 256GB, trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Đ về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại đã nhận lại tài sản, có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại số tiền bán điện thoại cho bị cáo, không có ý kiến gì.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quyết định truy tố bị cáo Đ về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải có biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe phòng ngừa chung nên cần phạt tù giam đối với bị cáo.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Đ 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2024
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng(hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm( chưa nộp).
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc V |
Bản án số 347/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 347/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Đ có hành vi trộm cắp tài sản
