|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 346/2024/HS-ST Ngày: 12 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Công
- Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 377/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Chế P, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: Tổ A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê Văn S và bà Thái Thị Bích T; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 09/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 245/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt vào ngày 21/01/2020.
Ngày 21/8/2018, bị công an phường B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 02/10/2018, bị công an phường B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 28/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng.
1
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có đơn đề nghị xét xử văng mặt.
2. Nguyễn Trọng N, sinh năm 2002 tại thành phố Hồ CHí Minh; nơi thường trú: 11/9 Đ, tổ dân phố D, khu phố D, phường A, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Trọng H và bà Phạm Thị Đ; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1982; nơi thường trú: 190/2, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1985; nơi thường trú: Khu phố H, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Mỹ C, ông Đặng Phương H1, bà Thạch H2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 25/8/2024, Lê Chế P điều khiển xe mô tô biển số 67K6-6190 chở Nguyễn Trọng N đi công việc riêng tại Chợ B phường A. Trong lúc P và N đang lưu thông trên đường N (hướng từ phường B về Chợ B) đi đến trước căn nhà tại địa chỉ: 1, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương do P biết nhà này có nuôi nhiều chim cảnh nên nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong để trộm chim. Thực hiện ý định, P dừng xe phía trước, để N ngồi đợi bên ngoài cảnh giới còn P tiếp cận, mở cửa cổng (cửa cổng không khóa) đi vào bên trong, khi vào bên trong P phát hiện có 01 xe mô tô biển số 61C1-424.81 của ông Nguyễn Trọng T1 đang dựng trong sân nhà nên P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này nên đi ra ngoài rủ N cùng trộm xe thì N đồng ý. Lúc này, P ngồi trên xe 67K6-6190 đứng bên ngoài cảnh giới để N đi vào bên trong đẩy xe mô tô biển số 61C1-424.81 ra ngoài. Tại đây, P điều khiển xe mô tô biển số 67K6-6190 và dùng chân đẩy xe mô tô biển số 61C1-424.81 do N ngồi điều khiển rời khỏi hiện trường. Khi P và N đi đến ngã ba giao nhau giữa đường B và đường N thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy phía trước có nhiều người dân đi qua lại, sợ bị phát hiện nên P kêu N bỏ xe mô tô biển số 61C1-424.81 vừa trộm được tại đầu đường B 26 rồi N lên xe mô tô biển số 67K6-6190 để P chở tiếp tục chạy đi theo hướng đường B, khi P đi được một đoạn ngắn thì bị lạc tay lái tự té xuống đường dẫn đến chiếc xe mô tô biển số 67K6-6190 bị hư, không tiếp tục chạy được. P và N xuống sửa xe thì lúc này có lực lượng công an phường B đang trên đường tuần tra phát hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, P và N thừa nhận hành vi phạm tội trộm xe mô tô như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô Yamaha Jupiter, biển số 61C1-424.81 và 01 (một) xe mô tô Wave, màu xanh biển số 67K6-6190.
2
Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 61C1-424.81 có trị giá 8.500.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 345/CT-VKSTA ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo: Lê Chế P và Nguyễn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Lê Chế P và Nguyễn Trọng N. Xử phạt các bị cáo:
Lê Chế P từ 1 (một) năm 3 (ba) tháng tù đến 1 (một) năm 9 (chín) tháng tù
Nguyễn Trọng N từ 9 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị giao lại 01 (một) xe mô tô Wave, màu xanh biển số 67K6-6190 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xem xét, xử lý.
- Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị cáo xác định thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời khai trong quá trình điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi đã gây ra và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại xác định đã nhận lại tài sản là xe mô tô Yamaha Jupiter, biển số 61C1-424.81, không yêu cầu các bị cáo bồi thường về phần trách nhiệm dân sự. Về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, bị hại yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
3
[2] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Lời khai của các bị cáo Lê Chế P và Nguyễn Trọng N tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 25/8/2024, tại địa chỉ: 1, khu phố T, phường A, thành phố T, các bị cáo Lê Chế P và Nguyễn Trọng N đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 61C1-424.81 có trị giá 8.500.000 đồng của bị hại Nguyễn Trọng T1. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Lê Chế P bản thân đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Chế P đã khởi xướng và rủ bị cáo Nguyễn Trọng N cùng thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của bị hại. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8] Về vai trò đồng phạm: Vụ án có tính đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo Lê Chế P là người khởi xướng, rủ rê và là chủ động tích cực giúp cho bị cáo Nguyễn Trọng N thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện vai trò cao hơn bị cáo Nguyễn Trọng N nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N.
[9] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với xe mô tô Wave, màu xanh biển số 67K6-6190 do bị cáo Lê Chế P thực hiện vào việc phạm tội, quá trình điều tra bị cáo P khai nhận mượn từ một
4
người bạn tên K (không rõ nhân thân lai lịch), hiện K đã về quê sinh sống không liên lạc được. Qua tra cứu xác định chủ sở hữu là bà Huỳnh Thị L, bà L xác định đã bán xe cho người khác vào năm 2014, không nhớ bán cho ai, không làm hợp đồng mua bán. Hiện xe không có trong hệ thống dữ liệu xe máy vật chứng nên cần giao lại xe trên cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Các Điều 106, 136; điểm c khoản 2 Điều 290; các Điều 292; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Lê Chế P và Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt các bị cáo:
1.1 Lê Chế P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2024.
1.2 Nguyễn Trọng N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền đối với 01 xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Wave) mang biển kiểm soát 67K6-6190, số khung trước giám định: ?...? (dấu ? là chữ số bị mài phá), số máy trước giám định: LC152FMΗ*02002487*
Sau giám định: Số khung?...?MDCH022HV004120 (dấu ? là chữ số bị mài sâu không đọc được), số máy không đổi: LC152FMH*02002487* (kèm KLGĐ xe, xe không kiểm tra tình trạng bên trong máy, xe không bửng 02 bên, đầu đèn xe và đuôi xe bị bể, xe cũ đã qua sử dụng, không chìa khoá)
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
5
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 26/2024/TB-TA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thuận An, ngày 24 tháng 12 năm 2024 |
6
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ vào các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 347/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương có thiếu sót do lỗi đánh máy cần được sữa chữa như sau:
- Tại dòng số 4, trang số 01 của Bản án có ghi như sau:
“Bản án số: 347/2024/HS-ST
Ngày: 12 – 12 – 2024".
- Tại dòng số 06 đến dòng số 09 của trang số 3 Bản án có ghi như sau:
“Bản Cáo trạng số 322/CT-VKSTA ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo: Lê Chế P và Nguyễn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).”
Nay được sửa chữa như sau:
- Tại dòng số 4, trang số 01 của Bản án ghi như sau:
“Bản án số: 346/2024/HS-ST
Ngày: 12 – 12 – 2024".
- Tại dòng số 06 đến dòng số 09 của trang số 3 Bản án ghi như sau:
“Bản Cáo trạng số 345/CT-VKSTA ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo: Lê Chế P và Nguyễn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).”
3. Các phần khác của Bản án giữ nguyên.
Toà án nhân dân thành phố Thuận An thông báo đến những người tham gia tố tụng và các cơ quan hữu quan biết.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Tố Uyên |
7
Bản án số 346/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 346/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lén lút chiếm đoạt tài sản
