|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 347/2024/HS-ST Ngày 28-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Bà Phạm Tú Nhi
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an thành phố D, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 376/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Lê Anh T, sinh năm 1988 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lê Văn H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1990;
- Tiền án:
- + Năm 2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 166/2008/HSST ngày 29/9/2008, chấp hành xong hình phạt ngày 01/4/2009;
- + Bản án số 02/2010/HSST ngày 07/01/2010, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 20/5/2010;
- + Bản án số 19/2011/HSST ngày 19/01/2011, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Bản án số 63/2011/HSST ngày 15/3/2011, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, bị cáo kháng cáo tại Bản án phúc thẩm số 75/2011/HSPT ngày 15/6/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên mức án 05 năm tù tội “Trốn khỏi nơi giam” và tổng hợp hình phạt của Bản án số 19/2011/HSST ngày 19/01/2011, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 18/12/2016;
- + Bản án số 03/2021/HSST ngày 15/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm 05 tháng 20 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/01/2021, chưa đóng án phí.
- Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ngô Minh H1, sinh năm 1981; trú tại: Số B, đường A, Khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1987, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 ngày 25/7/2024, anh Ngô Minh H1 điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX màu đen xám, biển số 47F1 – 437.39 đến trước nhà số C, khu dân cư N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Anh H1 dựng xe mô tô trên vỉa hè và điều khiển xe ôtô của Công ty để đi làm ở thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Anh T đi bộ đến trước nhà số C nhìn thấy chiếc xe mô tô của anh H1 đang dựng trên vỉa hè không có người trông coi, T đi đến chỗ chiếc xe dùng đoản hình chữ L phá ổ khóa xe. Sau khi phá khóa, T dắt xe mô tô xuống đường rồi nổ máy chạy đi tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi trên đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị anh Hoàng T2 nhìn thấy T điều khiển xe mô tô trên ổ khóa xe cắm đầu đoản mà không có chìa khóa xe nên anh T2 hỏi T “xe lấy trộm hả” thì T tăng ga bỏ chạy về hướng Ngã ba C. Khi đến trước nhà số B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị kẹt xe do đèn đỏ nên T bỏ lại chiếc xe trên đường rồi chạy bộ băng qua lan can đường thì bị anh T2 cùng người dân xung quanh bắt giữ giao cho Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Công an phường B, thành phố T đã lập hồ sơ vụ việc và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D để xử lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Lê Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Theo kết luận định giá tài sản số 141/KLĐG-HĐĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự kết luận: Xe mô tô 2 bánh, nhãn hiệu Honda, số loại RSX, màu đen – xám, biển số 47F1 – 437.39, số khung RLHJA3828GY104885, số máy JA38E0212242 trị giá 3.000.000 đồng.
Ngày 04/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản”.
Vật chứng thu giữ:
- + 01 xe môtô Honda Wave RSX màu đen – xám, biển số 47F1- 437.39;
- + 01 nón bảo hiểm màu vàng;
- + 01 nón vải màu đen, 01 khẩu trang bằng vải màu xanh;
- + 01 áo khoác màu xanh, 01 cáo thun ngắn tay màu trắng;
- + 01 quần lửng màu xanh, 01 dây thắt lưng bằng vải màu nâu;
- + 01 túi da màu đen, 01 đoản hình chữ L, 03 đầu đoản;
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX màu đen xám, biển số 47F1 - 43739 số khung RLHJA3828GY104885, số máy JA38E0212242 qua xác minh chủ sở hữu là anh Phan Đỗ Anh D. Anh D khai tháng 8/2023 đã bán chiếc xe trên cho anh Ngô Minh H1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Anh Dũng xác định chiếc xe thuộc sở hữu của anh H1, anh D không còn quyền lợi gì đối với chiếc xe, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại chiếc xe trên cho anh Ngô Minh H1.
Trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Minh H1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX màu đen – xám, biển số 47F1 – 437.39 và không yêu cầu bồi thường.
Bản Cáo trạng số 370/CT- VKS- DA ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Anh T mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: 01 nón bảo hiểm màu vàng, 01 nón vải màu đen, 01 khẩu trang bằng vải màu xanh, 01 áo khoác màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần lửng màu xanh, 01 dây thắt lưng bằng vải màu nâu, 01 túi da màu đen, 01 đoản hình chữ L và 03 đầu đoản không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/7/2024, Lê Anh T đi qua nhà số C, khu dân cư N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy trước cửa nhà dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX màu đen - xám, biển số 47F1- 437.39 không có người trông coi. T dùng đoản hình chữ L phá ổ khóa xe mô tô nổ máy chạy đi tìm nơi tiêu thụ thì bị người dân phát hiện bắt giữ. Theo kết quả định giá chiếc xe bị cáo T chiếm đoạt trị giá 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Hành vi lén lút dùng đoản mở khóa chiếm đoạt chiếc xe mô tô của bị cáo Lê Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 03/2021/HSST ngày 15/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo về tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Lê Anh T thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và trước đó đã phạm tội nhiều lần, nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Minh H1 đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 nón bảo hiểm màu vàng, 01 nón vải màu đen, 01 khẩu trang bằng vải màu xanh, 01 áo khoác màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần lửng màu xanh, 01 dây thắt lưng bằng vải màu nâu, 01 túi da màu đen, 01 đoản hình chữ L và 03 đầu đoản là dụng cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[8] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt nhẹ hơn thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[9] Án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu vàng, 01 nón vải màu đen, 01 khẩu trang bằng vải màu xanh, 01 áo khoác màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần lửng màu xanh, 01 dây thắt lưng bằng vải màu nâu, 01 túi da màu đen, 01 đoản hình chữ L và 03 đầu đoản.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2024).
3. Về án phí:
Bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 347/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 347/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không bồi thường
