Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2025/DS-PT

Ngày: 05 - 6 - 2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay

tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất vô hiệu”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Triều

Bà Lưu Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Âu Lâm Trường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 826/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1997; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Đăng K, sinh năm 1996; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn:

1. Ông Võ Văn V, sinh năm 1964; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1970; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1969; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

3. Anh Võ Hoàng S, sinh năm 1989; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1970; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số C đường M, khu phố A, Phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng: ông Trần Văn K1, sinh năm 1971

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm:

* Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai ghi ngày 23/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc T có người đại diện theo ủy quyền là anh Trần Đăng K trình bày:

Vào năm 2022, ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S có vay tiền của chị Phan Thị Ngọc T 02 lần với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng với lãi suất 3%/ tháng, để làm ăn, cụ thể như sau:

- Ngày 19/8/2022 ông V, bà L vay của chị T số tiền 500.000.000 đồng, khi vay tiền, chị T với ông V có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 nay là Văn phòng C, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Hiện tại chị T chưa làm thủ tục sang tên thửa đất này.

- Ngày 06/12/2022 ông V, bà L và anh S vay của chị T số tiền 500.000.000 đồng, khi vay tiền, chị T với ông V, bà L và anh S có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 nay là Văn phòng C, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Hiện tại chị T chưa làm thủ tục sang tên thửa đất này.

2

Khi vay tiền ông V, bà L, anh S hứa sẽ trả tiền lãi cho chị T mỗi tháng và khi nào chị T cần lấy lại tiền vốn chỉ cần báo trước thì ông V, bà L, anh S sẽ trả tiền lại cho chị T đầy đủ.

Tuy nhiên, từ khi vay tiền cho đến nay ông V, bà L, anh S không thực hiện đúng nghĩa vụ trả lãi. Chị T có nhiều lần yêu cầu ông V, bà L, anh S phải trả lại toàn bộ số tiền vốn và lãi nhưng ông V, bà L, anh S không trả.

Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của chị T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh Võ Hoàng S cùng liên đới trả số tiền vay 500.000.000 đồng và tiền lãi vào ngày 19/8/2022. Nay chị T khởi kiện yêu cầu các vấn đề sau:

- Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V đã ký đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 04679, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/8/2022 là vô hiệu.

- Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V, bà Trần Thị L, ông Võ Hoàng S đã ký đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 07215, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 là vô hiệu.

- Chị T yêu cầu ông Võ Văn V, bà Trần Thị L phải liên đới trả cho chị T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng, tính từ ngày 19/8/2022 cho đến ngày xét xử (Ngày 07/01/2025) là 28 tháng với số tiền lãi là 232.400.000 đồng. Tổng tiền vốn và tiền lãi là 732.400.000 đồng.

- Chị T yêu cầu ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S phải liên đới trả cho chị T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng, tính từ ngày 06/12/2022 cho đến ngày xét xử (Ngày 07/01/2025) là 25 tháng với số tiền lãi là 207.500.000 đồng. Tổng tiền vốn và tiền lãi là 707.500.000 đồng.

Chị T yêu cầu ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S trả số tiền trên một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Theo Bản tự khai ngày 02/12/2024, tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị L và ông Võ Văn V trình bày:

Ông bà và con trai ruột là Võ Hoàng S có đứng ra ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chị Phan Thị Ngọc T như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Mục đích là để ông bà vay giùm cho em ruột của bà L số tiền 1.000.000.000 đồng. Mỗi tháng ông bà phải trả cho chị T số tiền lãi là 35.000.000 đồng. Ông bà đóng tiền lãi được 15 tháng thì em của bà L không còn khả năng nên ông bà không đóng tiền lãi nữa, vì vậy chị T khởi kiện.

Nay ông bà thống nhất tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V đã ký đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1, công chứng số 04679, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/8/2022 là vô hiệu.

Ông bà thống nhất tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và ông Võ Hoàng S đã ký đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1, công chứng số 07215, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 là vô hiệu.

Do ông bà không có khả năng trả ngay số tiền trên nên xin trả số tiền vốn 1.000.000.000 đồng vào tháng 4/2025 âm lịch và xin giảm ½ số tiền lãi.

* Tại phiên tòa, bị đơn anh Võ Hoàng S trình bày:

Anh thống nhất với ý kiến trình bày của ông V, bà L. Nay anh thống nhất tuyên bố vô hiệu Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V đã ký đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh thống nhất tuyên bố vô hiệu Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh đã ký đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh và ông V, bà L xin trả số tiền vốn 500.000.000 đồng vào tháng 4/2025 âm lịch và xin giảm ½ số tiền lãi.

* Theo tờ tường trình ngày 05/11/2024, Văn phòng Ngô Thị Hoàng K2 trình bày:

Việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 04679, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 19/8/2022 và Hợpđồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 07215, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 06/12/2022 theo đúng trình tự thủ tục công chứng. Văn phòng công chứng không có yêu cầu nào khác và xin vắng mặt trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

4

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ Khoản 1 Điều 5, khoản 3 và khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 124, Điều 131, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Ngọc T về việc yêu cầu anh Võ Hoàng S liên đới trả số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 19/8/2022 và tiền lãi 232.400.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Ngọc T.
    1. Tuyên bố Hợpđồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V đã ký đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m2 tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 04679, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/8/2022 là vô hiệu.
    2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V, bà Trần Thị L, ông Võ Hoàng S đã ký đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0 m2 tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 07215, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 là vô hiệu.
    3. Buộc ông Võ Văn V, bà Trần Thị L phải liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và số tiền lãi là 232.400.000 đồng. Tổng cộng là 732.400.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
    4. Buộc ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S phải liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và số tiền lãi là 207.500.000 đồng. Tổng cộng là 707.500.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị Phan Thị Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

5

- Ngày 22 tháng 01 năm 2025, bị đơn Võ Văn V có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét khấu trừ số tiền lãi, mà ông đã đóng cho chị T với mức lãi suất là 3.5%/tháng vào số tiền gốc 500.000.000 đồng vào ngày 19/8/2022. Yêu cầu khấu trừ số tiền lãi mà ông đã đóng cho chị T với mức lãi suất là 3.5%/tháng vào số tiền gốc 500.000.000 đồng vào ngày 06/12/2022.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Ông V cho rằng có trả lãi cho bà T nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh, bà T không thừa nhận. Do đó đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với số tiền chị N chuyển cho bà T nếu có căn cứ thì có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt đương sự nêu trên.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc T yêu cầu tuyên bố Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu ông V, bà L và anh S trả lại số tiền vay. Bị đơn ông V, bà L và anh S có địa chỉ tại huyện C, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ khoản 3 và khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[3] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn V đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung: Ngày 22 tháng 01 năm 2025, bị đơn Võ Văn V có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét khấu trừ số tiền lãi, mà ông đã đóng cho chị T với mức lãi suất là 3.5%/tháng vào số tiền gốc 500.000.000 đồng vào ngày 19/8/2022. Yêu cầu khấu trừ số tiền lãi mà ông đã

6

đóng cho chị T với mức lãi suất là 3.5%/tháng vào số tiền gốc 500.000.000 đồng vào ngày 06/12/2022.

[5] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn V.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L và ông V thừa nhận có vay và còn nợ chị T số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 19/8/2022; Ngoài ra, anh S và vợ chồng ông V, bà L xác định còn nợ chị T thêm số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 06/12/2022. Như vậy, giao dịch cho vay mượn tiền giữa chị T với ông V, bà L và anh S thực tế đã phát sinh nhưng đến nay ông V, bà L và anh S vẫn không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên chị T khởi kiện yêu cầu ông V, bà L và anh S trả lại tiền là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

Ông V kháng cáo cho rằng ông có trả số tiền lãi 15 tháng mỗi tháng 35.000.000 đồng theo mức lãi suất 3,5% tháng, nay yêu cầu cần trừ lại. Bà T không thừa nhận có nhận bất cứ khoản tiền lãi của ông V, bà L, anh S, ông V, bà L và anh S không nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc đã trả tiền lãi cho bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng ông Trần Văn K1 là em rể của bị đơn bà Trần Thị L trình bày: ông có trực tiếp đi đóng tiền lãi cho bà T mỗi tháng 35.000.000 đồng, đóng từ ngày 19/8/2022 cho đến 19/10/2024. Tuy nhiên ông K1 cho rằng mỗi lần đi đóng ông chỉ đưa cho bà T mà không có bất kỳ giấy tờ nào để chứng minh, đại diện ủy quyền của bà T cho rằng bà T không nhận bất kỳ tiền lãi nào của ông K1 đi đóng. Do đó ông V kháng cáo cho rằng việc ông có đóng tiền lãi cho bà T là do ông K1 đi đóng là không có căn cứ để chấp nhận.

Ngoài ra đại diện ủy quyền của ông V cung cấp chị Trần Thị Huỳnh N có chuyển khoản số tiền 25.000.000 đồng đến số tài khoản 7490103038009 của bà Phan Thị Ngọc T. Đại diện ủy quyền của bà T thừa nhận có nhận của chị N số tiền chuyển khoản 25.000.000 đồng, nhưng cho rằng đây là quan hệ giữa chị N với bà T, không liên quan gì đến số tiền vay giữa ông V, bà L, với bà T. Nếu chị N có căn cứ giữa chị với bà T không có quan hệ vay mượn thì chị N có thể khởi kiện bà T vụ kiện khác.

Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để điều chỉnh lại tiền lãi cho bị đơn. Căn cứ theo khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản”. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu tính mức lãi suất 1,66%/tháng từ thời điểm vay tiền đến thời điểm xét xử vụ án (Ngày 07/01/2025), án sơ thẩm chấp nhận là phù hợp quy định pháp luật.

Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo qui định của pháp luật và tại

7

phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông V kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới ngoài những tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V.

[6] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: ông V phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn V.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 5, khoản 3 và khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 116, Điều 117, Điều 124, Điều 131, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Ngọc T về việc yêu cầu anh Võ Hoàng S liên đới trả số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 19/8/2022 và tiền lãi 232.400.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Ngọc T.
  3. 2.1. Tuyên bố Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V đã ký đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 35, diện tích 916 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 04679, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/8/2022 là vô hiệu.

    2.2. Tuyên bố Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Phan Thị Ngọc T với ông Võ Văn V, bà Trần Thị L, ông Võ Hoàng S đã ký đối với thửa

    8

    đất số 28, tờ bản đồ số 35, diện tích 2010,0 m² tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Hợp đồng được Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C) công chứng số 07215, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 là vô hiệu.

    2.3. Buộc ông Võ Văn V, bà Trần Thị L phải liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và số tiền lãi là 232.400.000 đồng. Tổng cộng là 732.400.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    2.4. Buộc ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S phải liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc T số tiền vốn vay là 500.000.000 đồng và số tiền lãi là 207.500.000 đồng. Tổng cộng là 707.500.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị Phan Thị Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Võ Văn V, bà Trần Thị L và anh Võ Hoàng S chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

  1. Về án phí:
    • - Ông Võ Văn V, bà Trần Thị L phải chịu 55.029.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Anh Võ Hoàng S phải chịu 10.867.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Hoàn lại cho chị Phan Thị Ngọc T số tiền 26.250.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016974 ngày 16/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ông Võ Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002902 ngày 22/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

9

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP HCM;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND H. Cai Lậy;
  • - CCTHADS H. Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Ngọc Tuyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TP. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Thu Thủy - Nguyễn Thanh Triều

Lâm Ngọc Tuyền

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 347/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 347/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger