|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 347/2023/DS-ST Ngày: 14-8-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Tấn Quang
- 2. Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N;
- Bị đơn:
- Ông Hồ Văn K1, sinh năm 1977 (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1989. (Có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trụ sở: 2 C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Duy K, sinh năm 1994, theo văn bản ủy quyền ngày 26/10/2022. Địa chỉ liên lạc: A A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH L1. Địa chỉ: A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của công ty: ông Lê Bửu L - chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: 1 N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần N có ông Trần Duy K trình bày:
Ngày 27/05/2020, ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H (sau đây gọi tắt là bị đơn) đã ký kết Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0046/2020/919-CV để vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng hoặc nguyên đơn) cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng);
- Thời hạn vay: 180 tháng;
- Lãi suất: 13%/năm (Thay đổi 03 tháng/lần);
- Mục đích vay: Vay mua đất/nhà để ở;
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 88 tại địa chỉ: A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 311940, số vào số cấp GCN số CH 03376 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 09/10/2015.
Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bị đơn trả nợ nhưng bị đơn vẫn không thực hiện.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tiền tạm tính đến 05/5/2023 là: 9.580.010.795 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 8.499.988.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 974.871.900 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 41.350.395 đồng;
- Lãi chậm trả lãi: 63.800.500 đồng
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nơ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Hồ Văn K1 trình bày: Ông xác nhận ông và bà H có ký kết Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0046/2020/919-CV ngày 27/5/2020 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N để vay số tiền 10.000.000.000 đồng và dư nợ còn lại như đại diện của Ngân hàng trình bày. Thời gian đầu sau khi ngân hàng giải ngân, ông bà vẫn thanh toán đúng nợ gốc và lãi hàng tháng. Đến năm 2021, tình hình kinh doanh của ông bà gặp khó khăn, cơ sở kinh doanh phải tạm ngưng hoạt động do quy định về phong tỏa khi bùng phát dịch Covid-19, việc này đã và đang ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của ông bà. Nay với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, ông đưa ra phương án như sau: Trong tháng 05/2023 ông sẽ trả hết phần nợ quá hạn. Số còn lại, ông đề nghị Ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ để ông tiếp tục thực hiện trả dần theo từng đợt như hợp đồng tín dụng ban đầu.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Duy K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc ông K1 và bà H thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/8/2023 là 9.907.827.956 đồng, bao gồm:
- Nợ gốc: 8.469.988.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 1.266.562.318 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 77.741.847 đồng;
- Lãi chậm trả lãi: 93.535.791 đồng.
Yêu cầu thanh toán ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 15/8/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp, ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Bị đơn - ông Hồ Văn K1 thừa nhận số công nợ còn thiếu như nguyên đơn trình bày và đề nghị Ngân hàng cho thời gian khoảng từ 45 đến 60 ngày để ông trả hết nợ quá hạn. Số nợ gốc và lãi trong hạn còn thiếu thì xin được cơ cấu lại để ông tiếp tục thực hiện trả dần theo từng đợt như hợp đồng tín dụng ban đầu.
Bị đơn - bà Nguyễn Thị Thu H và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH L1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần N khởi kiện yêu cầu bị đơn - ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H trả các khoản tiền còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số 0046/2020/919-CV ngày 27/5/2020. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông K1 và bà H có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và Công ty TNHH L1.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 14/8/2023 là 9.907.827.956 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0046/2020/919-CV ngày 27/5/2020 và Giấy nhận nợ số 01/GNN-0046/2020/919-CV ngày 28/5/2020 mà các bên đã ký kết thể hiện ngân hàng đã giải ngân cho ông K1 và bà H vay số tiền 10.000.000.000 đồng để mua đất/nhà để ở. Sau khi vay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K1 và bà H phải liên đới trả nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, ông K1 thừa nhận ông và bà H có ký kết Hợp đồng tín dụng như đại diện của Ngân hàng trình bày. Sau khi ngân hàng giải ngân, ông bà vẫn thanh toán đúng nợ gốc và lãi định kỳ hàng tháng. Đến năm 2021, do tình hình kinh doanh gặp khó khăn bởi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nên bị đơn mới vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng. Phía bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản đối, tranh chấp hay trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có cơ sở xác định ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn nợ số tiền 9.907.827.956 đồng như nguyên đơn trình bày. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả toàn bộ số công nợ còn thiếu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[2.2] Về yêu cầu ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ. Xét thấy yêu cầu này là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận đã ký kết giữa các bên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn; việc bị đơn yêu cầu trả dần từng trong vòng 02 tháng không được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị đơn trả một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.
[2.4] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn:
Xét tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, yêu cầu trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 88 (BĐĐC-2005) tại địa chỉ A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 311940, số vào số cấp GCN số CH 03376 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 09/10/2015 cho ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu của bị đơn - ông Hồ Văn K1 về việc đề nghị Ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ để ông thực hiện trả dần theo từng đợt. Xét thấy yêu cầu này là không được phía nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng:
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 9.907.827.956 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 117.907.828 đồng. H1 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (Năm triệu) đồng do ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H chịu theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 299, 320, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần N:
- Ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/8/2023 là 9.907.827.956 (Chín tỷ, chín trăm lẻ bảy triệu, tám trăm hai mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi sáu) đồng (trong đó bao gồm: nợ gốc là 8.469.988.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.266.562.318 đồng, nợ lãi quá hạn là 77.741.847 đồng, nợ lãi chậm trả là 93.535.791 đồng) để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng tín dụng số 0046/2020/919-CV ngày 27/5/2020 mà các bên đã ký kết.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 15/8/2023 theo mức lãi suất quá hạn, lãi phạt quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0046/2020/919-CV ngày 27/5/2020 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Trường hợp ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H không thanh toán được số nợ nói trên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 88 (BĐĐC-2005) tại địa chỉ A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC311940, số vào sổ cấp GCN CH03376 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 09/10/2015) để thu hồi nợ.
Khi ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ các giấy tờ liên quan tài sản bảo đảm cho ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì ông K1 và bà H có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.
Trường hợp nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho bên thế chấp là ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H.
- Về chi phí tố tụng và án phí:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (Năm triệu) đồng do ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H chịu. Ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N 5.000.000 (Năm triệu) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.
- Ông Hồ Văn K1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí sơ thẩm là 117.907.828 (Một trăm mười bảy triệu, chín trăm lẻ bảy ngàn, tám trăm hai mươi tám) đồng. H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.870.081 (Năm mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, không trăm tám mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0031172 ngày 29/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 347/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 347/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
