|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 347/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Văn Hăng;
- Bà Dương Thị Thúy Duy.
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 468/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 781/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Lý Mai P, sinh năm 1999; cư trú: Ô4, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1996; cư trú: Số H, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa tất cả vắng mặt; bà P có đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo bà Trần Lý Mai P trình bày:
Về hôn nhân: Hôn nhân của bà và ông T là tự tìm hiểu được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng năm 2022 thì vự chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tình cách không phù hợp, hai bên không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khó hàn gắn được. Bà và ông T đã ly thân nhau từ thời gian đó đến nay, gia đình hai bên cũng có hàn gắn nhưng không thành.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, có quay về chung sống cũng không hạnh phúc nên bà xin ly hôn với ông T.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông T. Đồng thời, bà xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa bảo lưu ý kiến.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông T theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông T, bà P để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Về nơi cư trú: Theo Biên bản xác minh ngày 07/8/2024 tại Công an xã P xác định ông T vẫn còn địa chỉ cư trú tại tổ D, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang chưa thực hiện tách chuyển đi nơi khác.
Về tình trạng hôn nhân: Bà Lý Hồng P1 là mẹ ruột của bà P cho biết ông T và bà P chung sống với nhau nhưng tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra tranh cãi từ những chuyện nhỏ trong sinh hoạt gia đình đến những chuyện ngoài xã hội. Bà và gia đình đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng chỉ được một thời gian thì mâu thuẫn lại phát sinh và ngày càng trầm trọng hơn. Ông bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên quyết định ly thân nhau cách đây đã hơn 01 năm, trong thời gian ly thân ông bà không liên lạc, gia đình hai bên không hàn gắn, để ông bà tự quyết định. Nay bà P quyết định ly hôn với ông T, bà không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bà P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng ông T đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà P chung sống với ông T đến năm 2022 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu câu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: ông T hiện có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lý Mai P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về hôn nhân: Bà P và ông T xây dựng gia đình trên hôn nhân tự nguyện được sự đồng ý của hai gia đình tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà P vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông T. Tại hòa giải, bà P yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay bà P vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân từ năm 2022 đến nay nhưng cả hai không hàn gắn, gia đình hai bên để ông bà tự hòa giải nhưng đến nay không có kết quả.
Bà P cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng tranh cãi, nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên ông bà đã quyết định ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Tuy không xác định được chính xác lời trình bày về mâu thuẫn của bà P và ông T nhưng trong quá trình tố tụng, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án; ngoài ra, ông cũng đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía bà P cung cấp.
Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc bà P trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà P và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà P là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: bà P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lý Mai P.
- Về hôn nhân: Bà Trần Lý Mai P được ly hôn với ông Lê Văn T.
- Về án phí: Bà Trần Lý Mai P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009559 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà P đã nộp đủ). Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/9/2024) thời hạn kháng cáo của các đương sự được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án số 347/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
- Số bản án: 347/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà P xin ly hôn với ông T
