Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 347/2024/DS-PT

Ngày: 31-7-2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Ngọc Giàu

Bà Võ Thị Hồng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24, 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 v/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 299/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị G, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương;
  2. Bị đơn: Ông Lý Văn L, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Lý Văn B, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
    • Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Văn B là bà Lý Thị G, (Văn bản ủy quyền ngày 21-3-2024);

    • 3.2. Anh Lý Trung C, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương;
    • Người đại diện theo ủy quyền của anh Lý Trung C là bà Lý Thị G, (Văn bản ủy quyền ngày 25-3-2024);

    • 3.3. Anh Lý Tấn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
    • 3.4. Anh Lý Tấn T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
    • Người đại diện theo ủy quyền của anh Lý Tấn T1 là ông Lý Văn L, (Văn bản ủy quyền ngày 12-8-2020);

    • 3.5. Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Văn R, Chức vụ: Chủ tịch.

Bà G và ông L có mặt; ông R xin vắng mặt; anh T vắng mặt.

Người kháng cáo: nguyên đơn bà Lý Thị G.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Nguyên đơn, bà Lý Thị G trình bày: Bà vừa là nguyên đơn vừa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Văn B và anh Lý Trung C.

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ bà là cụ Lê Thị C1 (chết năm 2006) và cụ Phạm Văn H (chết năm 1968 và do chiến tranh nên cha bà đổi họ L1 là Lý Văn H1, nên bà lấy họ Lý theo cha bà), vào ngày 24-9-1965 cụ C1 và cụ H1 có nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn H2, bà Lê Thị R1, bà Lê Thị R2 đều đã chết, bà Lê Thị Ú hiện còn sống tại ấp G, xã B nhưng đã mất trí nhớ, không còn minh mẫn, diện tích khoảng 5.000m², với số tiền 2.250 đồng, có lập giấy tay chuyển nhượng do chế độ cũ chứng thực và hiện bà đang giữ bản chính. Sau khi nhận chuyển nhượng cha mẹ bà có sản xuất trồng lúa, dưa leo trên đất đến năm 1977, lúc này ông Lý Văn T2 (anh ruột cha bà là cụ H1) cho rằng đất này là của cụ H1, không phải của cụ C1 nên ông T2 có xây dựng nhà trên đất với diện tích ngang 04 mét, dài 09 mét và ông T2 tự ý cho những người cháu là Lý Thị Q, Ông Lý Văn L là con của cụ Lê Thị B1, (cụ B1 là chị dâu cụ H1), chồng cụ B1 là cụ Lý Văn R3 (cụ R3 là anh ruột cụ H1) đến ở trên đất, lúc này chỉ có cụ B1 xây dựng nhà tạm để ở cùng với các con là bà Q, ông L, đến năm 1982 ông L lập gia đình thì cụ B1 có cho ông L sử dụng riêng diện tích đất thực tế hiện nay đang tranh chấp là 1.417,6m² để xây dựng nhà ở, còn lại diện tích 681,5m² cụ B1 quản lý sử dụng. Thời gian sau đó bà không nhớ, cụ B1 lại tiếp tục cho bà Q diện tích đất còn lại 681,5m² này và đến năm 2009, 2010 bà không nhớ cụ thể thì bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đó ngày 19-12-1995 cụ C1 có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã B và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G giải quyết yêu cầu ông T2, cụ B1 cùng các con trả lại đất, nhưng cụ B1 cùng các con không đồng ý. Đến năm 1996 Ủy ban nhân dân xã B giải quyết và ông T2 tự nguyện trả lại đất, nhưng hiện nay ông T2 sống tại đâu và còn sống hay chết bà không biết. Do cụ B1 cùng các con không đồng ý trả lại đất, nên cụ C1 tiếp tục khiếu nại, đến năm 2006 cụ C1 chết, nên các anh em bà tiếp tục khiếu nại theo thủ tục hành chính. Sau đó có khởi kiện hành chính đối với ông L, ngày 31-8-2011 Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu ban hành quyết định số 44 đình chỉ giải quyết vụ án do đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện G. Ngày 28-11-2012 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ban hành quyết định số 26 bác đơn yêu cầu giải quyết của chị em bà và công nhận diện tích đất 1.417,6m² cho ông L. Ngày 08-3-2016 Ủy ban nhân dân huyện G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L với diện tích trên. Bà tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh T, ngày 22-11-2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành quyết định số 2416 bác đơn khiếu nại của bà và công nhận quyết định của Ủy ban nhân dân huyện G là đúng. Bà tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, ngày 15-11-2018 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xét xử hủy quyết định số 2416 của Ủy ban nhân dân tỉnh T và quyết định số 26 của Ủy ban nhân dân huyện G, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L. Đến tháng 11-2019 bà nhận được quyết định số 3343 và 3344 về việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và bà tiếp tục khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông L trong vụ án này.

Phần diện tích đất còn lại theo giấy tay mua bán đất ngày 24-9-1965, lúc mẹ bà là cụ C1 còn sống đã bán cho bà Trần Thị H3 diện tích ngang 11 mét, dài 32 mét; ông L2, bà Trần Thị Phương L3 diện tích ngang 10 mét, dài 32 mét và ông Nguyễn Văn C2 diện tích ngang 13 mét, dài 32 mét, tất cả cùng địa chỉ tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, việc mua bán có lập giấy tay và đến nay những người này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không có tranh chấp.

Bà thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà không yêu cầu thẩm định giá lại.

- Bà G yêu cầu ông Lý Văn L phải di dời tài sản trả lại quyền sử dụng phần đất có diện tích thực tế 1.417,6m² thuộc thửa số 266, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh và công nhận diện tích đất trên cho bà được quyền sử dụng, thuộc quyền thừa kế của bà do ông B, anh C đồng ý giao cho bà được nhận.

Trong thửa đất số 266 được tách thành 03 thửa gồm: Thửa đất số 595, thửa đất số 596 và thửa đất số 597. Trong đó, thửa đất số 595 ông L đã tặng cho con là anh Lý Tấn T; thửa đất số 596 ông L đã tặng cho con là anh Lý Tấn T1 và thửa đất số 597 hiện do ông L đang quản lý sử dụng, nên bà có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu:

- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 63, quyển số 01/2017 do Ủy ban nhân dân xã B chứng thực ngày 28-02-2017, giữa ông L với anh Lý Tấn T1 đối với phần đất có diện tích thực tế 158,9m² thuộc thửa đất số 596, tờ bản đồ số 33 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Lý Tấn T1 đứng tên ngày 22-3-2017 đối với phần đất có diện tích 158,9m² thuộc thửa số 596, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 372, quyển số 01/2019 do Ủy ban nhân dân xã B chứng thực ngày 24-6-2019, giữa ông L với anh Lý Tấn T đối với phần đất có diện tích 156,1m² thuộc thửa số 595, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn, ông Lý Văn L trình bày: Ông vừa là bị đơn vừa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Tấn T1. Nguồn gốc phần đất tranh chấp do cha ông là cụ Lý Văn R3 (chết năm 1967) khai phá từ năm 1944, mẹ ông là cụ Lê Thị B1 (chết năm 2007), gia đình ông sống trên đất này đến năm 1964, do chiến tranh gôm dân lập ấp chiến lược nên gia đình ông về sống tại S thuộc Huyện D. Đến năm 1976 sau khi giải phóng thì mẹ ông cùng các con quay về xây dựng nhà ở trên đất mà cha ông khai phá hiện đang tranh chấp. Trước đó vào năm 1975 ông Lý Văn T2 (là em cụ R3 cha ông, anh cụ H1 cha bà G) cũng về ở trên đất mà ông T2 đã khai phá giáp ranh với đất mà cha ông đã khai phá năm 1944. Ngoài ra, gia đình cụ H1 ở trên đất của ông bà N ông để lại diện tích khoảng hơn 87 cao. Đến năm 1982 ông lập gia đình, mẹ ông cụ B1 có cho ông một phần đất để xây dựng nhà ở, còn em ông là bà Q thì vẫn sống chung với mẹ ông là cụ B1, sau khi mẹ ông chết thì đến năm 2010 bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ trước đến nay gia đình bà G không có sử dụng đất này. Năm 1995 cụ Lê Thị C1 (mẹ bà G) có tranh chấp, sau khi cụ C1 chết thì các anh em bà G tranh chấp đến nay. Trong quá trình giải quyết ông được Ủy ban nhân dân huyện G công nhận phần đất đang quản lý sử dụng, nên ông có làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08-3-2016 với diện tích 1.417,6m², năm 2017 phần đất này được tách thành 03 thửa gồm: Thửa đất số 595, 596, 597 và cùng năm 2017 ông có tặng cho con là Lý Tấn T1 thửa đất số 596 và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22-3-2017 với diện tích 158,9m². Ngày 24-6-2019 ông tiếp tục có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con là Lý Tấn T thửa đất số 595 diện tích 156,1m², nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện G đã thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông được cấp ngày 08-3-2016. Hiện bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Lý Tấn T1 đứng tên, T1 đang giữ, không bị thu hồi.

Ông thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, ông không yêu cầu thẩm định giá lại.

Nay bà G yêu cầu ông phải di dời tài sản trả lại đất cũng như công nhận phần đất tổng diện tích 1.417,6 m² thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đã tách thành 03 thửa số 595, 596, 597, tờ bản đồ số 33, ông không đồng ý vì đất này là do cha ông tự khai phá từ năm 1944, không phải đất của gia đình bà G nhận chuyển nhượng như bà G đã trình bày là không đúng.

Ngoài ra, ông có yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận phần đất diện tích thực tế còn lại sau khi ông tặng cho con Lý Tấn T1 là 1.258,7m², (1.417,6m² – 158,9m² = 1.258,7m²) cho ông được quyền quản lý sử dụng.

Đối với phần đất mà ông đã tặng cho Lý Tấn T1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22-3-2017 thì Lý Tấn T1 yêu cầu công nhận theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G thì ông và anh T1 không yêu cầu giải quyết các tài sản có trên đất. Ngoài ra, ông và anh T1 không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Lý Tấn T: Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T không đến và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân xã B, ông Trương Văn R là người đại diện theo pháp luật trình bày: Ủy ban nhân dân xã B có chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 63, quyển số 01/2017 ngày 28-02-2017, giữa ông Lý Văn L với anh Lý Tấn T1 đối với phần đất diện tích 158,9m² thuộc thửa số 596, tờ bản đồ số 33 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 372, quyển số 01/2019 ngày 24-6-2019 giữa ông Lý Văn L với anh Lý Tấn T đối với phần đất diện tích 156,1m² thuộc thửa số 595, tờ bản đồ số 33, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Nội dung, tại thời điểm giao dịch chứng thực các bên tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Ủy ban nhân dân xã B chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên là đúng theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục chứng thực và các văn bản luật khác liên quan. Nay có tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên. Ủy ban nhân dân xã B yêu cầu Tòa án giải quyết đúng theo quy định pháp luật và Ủy ban nhân dân xã B không có yêu cầu gì khác, xin vắng mặt trong vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ Điều 147, 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 247, 255 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C đối với ông Lý Văn L về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đối với diện tích đất thực tế 1.417,6m² (loại đất ONT: 400m², CLN: 1.017,6m²) thuộc các thửa số 595, 596, 597, tờ bản đồ số 33 (bản đồ 2000), tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lý Văn L yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích thực tế 1.258,7m² thuộc thửa số 595, 597 tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
    • 2.1. Ông Lý Văn L được quyền quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế 1.258,7m² thuộc thửa số 595, 597, tờ bản đồ số 33. Trong đó thửa số 597 có diện tích thực tế 1.102,6m² (loại đất ONT: 200m², CLN: 902,6m²), tờ bản đồ 33 (bản đồ 2000), tứ cận: Đông giáp thửa số 284 dài 11,17m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 26,46m; Nam giáp thửa số 265 dài 8,32m + 28,81m và thửa số 293 dài 33,53m; Bắc giáp thửa số 260 dài 14,50m + giáp thửa số 596 dài 40,43m và thửa số 595 có diện tích thực tế 156,1m² (loại đất ONT: 100m², CLN: 56,1m²), tờ bản đồ số 33 (bản đồ 2000), tứ cận: Đông giáp thửa số 597 dài 4m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 4m; Nam giáp thửa số 596 dài 39,71m; Bắc giáp thửa số 260 dài 38,99m, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lý Tấn T1 yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế 158,9m² thuộc thửa số 596, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
    • 3.1. Anh Lý Tấn T1 được quyền tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế thực tế 158,9m² (loại đất ONT: 100m², CLN: 58,9m²), tứ cận: Đông giáp thửa số 597 dài 4m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 4m; Nam giáp thửa số 597 dài 40,43m; Bắc giáp thửa số 595 dài 39,71m, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Lý Tấn T1 đứng tên ngày 22-3-2017, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  4. Ông Lý Văn L có quyền và nghĩa vụ yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.258,7m² (loại đất ONT: 300m², CLN: 958,7m²) thuộc thửa số 595, 597, tờ bản đồ số 33 (bản đồ 2000), tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo:

Theo đơn kháng cáo đề ngày 19-4-2024 bà Lý Thị G có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Lý Thị G thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đồng ý cho ông Lý Văn L sử dụng ½ diện tích đất; trả lại cho bà và ông B, anh Chí ½ diện tích đất trống.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;

+ Về nội dung:

Xét về nguồn gốc đất theo hồ sơ thể hiện là do cha, mẹ của bà G (là cụ Phạm Văn H, cụ Lê Thị C1) mua lại của ông Lê Văn H2, bà Lê Thị R1, bà Lê Thị R2, bà Lê Thị Ú (là các con của cụ Lên Văn T3) phần đất 5.000m² với giá 2.250 đồng (trong đó có phần đất đang tranh chấp). Việc mua bán có lập giấy tay và được chính quyền chế độ cũ xác nhận vào ngày 24/9/1965 và có nhiều người tại địa phương biết. Ông Lý Văn L trình bày nguồn gốc đất là của cha ông là cụ Lý Văn R3 khai phá từ năm 1944 là không có căn cứ.

Việc tranh chấp được cụ Lê Thị C1 có đơn từ năm 1995 đến năm 2006 thì cụ C1 chết. Các con cụ C1 là bà G, ông B, ông C tiếp tục tranh chấp với ông L từ năm 2011 cho đến nay. Sau khi có đơn tranh chấp của cụ C1 ra chính quyền địa phương thì cụ Lý Văn T2 tự nguyện trả lại hết phần đất tự chiếm cho cụ C1, riêng gia đình ông L không chịu trả.

Tại biên bản làm việc ngày 08/02/1996 và ngày 18/5/1996 do UBND xã B lập, ông L có trình bày: muốn coi giấy mua đất của bà C1, vì lúc đó ông còn nhỏ, nên vấn đề mua bán đất tôi không biết. Nếu quả thật của bà C1, ông sẽ hoàn trả khi ông kiếm được đất khác.

Từ đó xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà G, ông buôl, anh C là có căn cứ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không đúng. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 06/10/2000 tại UBND xã B (BL538), thể hiện ý chí của cụ C1 là yêu cầu ông L trả lại ½ diện tích ông L sử dụng; còn lại ½ diện tích thì cho ông L, tại phiên tòa hôm nay bà G cũng thống nhất cho ông L tiếp tục sử dụng phần đất đã xây cất kiên cố, ổn định . Do đó cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà G, ông B, anh C.

Từ nhận định như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông L trả cho nguyên đơn ½ diện tích đất ông L đang quản lý; chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông L, công nhận quyền sử dụng đất cho ông L ½ diện tích; không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lý Tấn T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm ngày 08-4-2024, trong ngày bà Lý Thị G có đơn kháng cáo; có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Xét thấy việc kháng cáo là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ bà là cụ Lê Thị C1 (chết năm 2006) và cụ Phạm Văn H (chết năm 1968 và do chiến tranh nên cha bà đổi họ L1 là Lý Văn H1, nên bà lấy họ Lý theo cha bà), vào ngày 24-9-1965 cụ C1 và cụ H1 có nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn H2, bà Lê Thị R1, bà Lê Thị R2, bà Lê Thị Ú (là con của cụ Lê Văn T4), diện tích khoảng 5.000m², với số tiền 2.250 đồng, có lập giấy tay chuyển nhượng do chế độ cũ chứng thực. Sau khi nhận chuyển nhượng cha mẹ bà G có sản xuất trồng lúa, dưa leo trên đất đến năm 1977. Lúc này ông Lý Văn T2 (anh ruột cha bà là cụ H1) cho rằng đất này là của cụ H1, không phải của cụ C1 nên ông T2 có xây dựng nhà trên đất với diện tích ngang 04 mét, dài 09 mét và ông T2 tự ý cho những người cháu là Lý Thị Q, Lý Văn L là con của cụ Lê Thị B1, (cụ B1 là chị dâu cụ H1), chồng cụ bán là cụ Lý Văn R3 (cụ R3 là anh ruột cụ H1) đến ở trên đất, lúc này chỉ có cụ B1 xây dựng nhà tạm để ở cùng với các con là bà Q, ông L, đến năm 1982 ông L lập gia đình thì cụ B1 có cho ông L sử dụng riêng diện tích đất thực tế hiện nay đang tranh chấp là 1.417,6m² để xây dựng nhà ở, còn lại diện tích 681,5m² cụ B1 quản lý sử dụng. Thời gian sau đó bà không nhớ, cụ B1 lại tiếp tục cho bà Q diện tích đất còn lại 681,5m² này và đến năm 2009, 2010 bà không nhớ cụ thể thì bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đó ngày 19-12-1995 cụ C1 có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã B và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G giải quyết yêu cầu ông T2, cụ B1 cùng các con trả lại đất, nhưng cụ B1 cùng các con không đồng ý. Đến năm 1996 Ủy ban nhân dân xã B giải quyết và ông T2 tự nguyện trả lại đất. Do cụ B1 cùng các con không đồng ý trả lại đất, nên cụ C1 tiếp tục khiếu nại, đến năm 2006 cụ C1 chết, nên các anh em bà G tiếp tục khiếu nại theo thủ tục hành chính. Sau đó có khởi kiện đối với ông L, ngày 31-8-2011 Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu ban hành quyết định số 44 đình chỉ giải quyết vụ án do đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện G. Ngày 28-11-2012 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ban hành quyết định số 26/QĐ-UBND bác đơn yêu cầu giải quyết của chị em bà và công nhận diện tích đất 1.417,6m² cho ông L. Ngày 08-3-2016 Ủy ban nhân dân huyện G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L với diện tích trên. Bà tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh T, ngày 22-11-2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành quyết định số 2416/ QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của bà và công nhận quyết định của Ủy ban nhân dân huyện G là đúng. Bà tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính, qua nhiều lần xét xử ngày 15-11-2018 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã đưa xét xử sơ thẩm lần thứ hai. Kết quả Hội đồng xét xử hủy quyết định số 2416/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh T và quyết định số 26/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện G, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L. Đến tháng 11-2019 bà nhận được quyết định số 3343/QĐ-UBND và 3344/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và bà tiếp tục khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông L trong vụ án này.

[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:

Từ khi ông Lý Văn T2 (anh ruột cha bà là cụ H1) cho rằng đất này là của cụ H1, không phải của cụ C1 nên ông T2 đến xây dựng nhà trên đất từ năm 1977 và ông T2 tự ý cho những người cháu là Lý Thị Q, Lý Văn L là con của cụ Lê Thị B1 đến ở trên đất, lúc này chỉ có cụ B1 xây dựng nhà tạm để ở cùng với các con là bà Q, ông L, đến năm 1982 ông L lập gia đình thì cụ B1 có cho ông L sử dụng riêng diện tích đất thực tế hiện nay đang tranh chấp là 1.417,6m² để xây dựng nhà ở. Quá trình sử dụng đất của cụ T2, cụ B1 và con cụ B1 thì cụ C1 (mẹ bà G) đã nhiều lần đòi lại đất nhưng không được, cụ C1 có làm đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết vào ngày 19-12-1995, đến năm 1996 thì cụ T2 tự nguyện trả lại đất cho cụ C1, còn cụ B1 và ông L không chịu trả, UBND xã B hòa giải đề nghị cụ B1, ông L trả cho cụ C1 ½ diện tích đang sử dụng, nhưng ông L không đồng ý trả, nên sự việc tranh chấp kéo dài cho đến nay.

Quá trình khiếu nại, tranh chấp đến năm 2006 thì cụ C1 chết, anh em của bà G tiếp tục tranh chấp khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, đến ngày 31-8-2011 Tòa án huyện Gò Dầu ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do, đất tranh chấp chưa được cấp giấy nên thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện G. Năm 2012 UBND huyện G có thụ lý đơn tranh chấp, kết quả xác minh thì UBND huyện G đã xác định nguồn gốc đất tranh chấp là do cụ H1, cụ C1 mua vào năm 1965. Tuy nhiên cho rằng cụ B1 và ông L đến cất nhà ở trên đất từ năm 1977 đã ổn định hợp pháp nên ban hành Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 28-11-2012 bác đơn tranh chấp của bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Văn T5; Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý Văn L phần đất diện tích 1.417,6m² thửa 266, tờ bản đồ 33.

Bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Văn T5 có đơn khởi kiện vụ án hành chính. Tại Bản án hành chính sơ hẩm số 05/2015/ST-HC ngày 22-9-2015 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Văn T5 không đồng ý với bản án hành chính sơ thẩm nên có đơn kháng cáo. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 39/2015/ST-HC ngày 31-12-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 05/2015/ST-HC ngày 22-9-2015 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

Bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Văn T5 không đồng ý với bản án hành chính phúc thẩm nên có đơn khiếu nại theo trình tự Giám đốc thẩm. Trong thời gian chờ xem xét của cấp có thẩm quyền thì ông Lý Văn L đi kê khai đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý Văn L số vào sổ cấp GCN: CH 02475 ngày 08-3-2016.

Ngày 06-11-2017 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đề nghị hủy cả 02 bản án hành chính sơ, phúc thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2018/ST-HC ngày 15-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Trung C; tuyên hủy Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 28-11-2012 của UBND huyện G và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH 02475 do UBND huyện G cấp cho ông Lý Văn L ngày 08-3-2016.

Căn cứ vào Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2018/ST-HC ngày 15-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. UBND huyện G ban hành Quyết định số 3343/QĐ-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2019 thu hồi, hủy Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 28-11-2012 và Quyết định số 3344/QĐ-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2019 thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH 02475 do UBND huyện G cấp cho ông Lý Văn L ngày 08-3-2016. Diện tích 1.417,6m2, thửa 266, tờ bản đồ 33; tọa lạc ấp B, xã B, huyện G.

Như vậy, phần đất ông Lý Văn L đang quản lý sử dụng hiện tại chưa được cơ quan Nhà nước công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lý Văn L với anh Lý Tấn T1 và anh Lý Tấn T mặc nhiên vô hiệu.

Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, nhận định:

Mặt dù, nguồn gốc đất là của cha mẹ bà G, ông B, ông Trung C là cụ H1, cụ C1 nhận chuyển nhượng từ năm 1965, nhưng chỉ quản lý sử dụng sản xuất trồng lúa, hoa màu trên đất đến năm 1977, thì cụ C1 có cho cụ Lê Thị B1 là mẹ của ông L xây dựng nhà ở trên diện tích đất này, tại thời điểm này gia đình cụ B1 gồm có cụ B1 cùng với hai người con là ông L, bà Q, đến khi ông L lập gia đình thì cụ B1 có cho ông L phần đất liền kề với nhà cụ B1 xây dựng, cụ B1 chết hiện bà Q (em ông L) đang ở và ông L đã xây dựng nhà ở cho đến nay. Diện tích đất còn lại gia đình bà G, ông B, ông T5 đã chuyển nhượng hết cho người khác không có tranh chấp như bà G trình bày là đúng. Hơn nữa gia đình bà G cũng không có kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Lúc cụ C1 cho cụ B1 là mẹ của ông L ở trên đất nhưng không có giấy tờ gì để chứng minh là cho ở nhờ trên đất cả và lúc cụ C1 còn sống chỉ yêu cầu ông L trả lại thành quả lao động, nhưng không được ông L đồng ý thì cụ C1 cũng không có khiếu nại hay tranh chấp gì với ông L đến khi cụ C1 chết năm 2006. Hơn nửa ông L đã quản lý sử dụng đất ổn định đến nay đã hơn 40 năm nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, ông B, anh C; Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lý Văn L yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích thực tế 1.258,7m² thuộc thửa số 595, 597 tờ bản đồ số 33; Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lý Tấn T1 yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế 158,9m² thuộc thửa số 596, tờ bản đồ số 33.

Xét thấy bản án sơ thẩm nhận định ông L sử dụng ổn định trên 40 năm là không có cơ sở, bởi vì gia đình bà Lý Thị G đã tranh chấp từ năm 1995 cho đến nay, nên việc ông L quản lý sử dụng phần đất tranh chấp là không hợp pháp. Mặt khác cụ Lý Văn T2 là người kêu gọi cụ B1, ông L về ở trên đất đã tự nguyện giao trả toàn bộ phần đất của cụ quản lý sử dụng cho cụ C1, điều này chứng minh cho việc khiếu nại, tranh chấp của cụ C1 và anh em bà Lý Thị G là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ đó cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác. Tuy nhiên, việc cụ B1, ông L cũng có công tôn tạo quá trình quản lý sử dụng đất và tại Biên bản hòa giải của UBND xã B, huyện G vào năm 1996, cụ C1 chỉ yêu cầu ông L trả lại ½ diện tích. Mặt khác tại phiên tòa phúc thẩm bà G đại diện cho ông B, anh C thay đổi yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu ông L trả lại ½ diện tích tại khu vực đất trống, phần còn lại ông L được tiếp tục sử dụng. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Lý Văn L; chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà G; chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lý Văn L. Cần buộc ông Lý Văn L trả lại cho bà Lý Thị G, Lý Văn B, Lý Trung C ½ diện tích đất ( 1.417,6m²/2=708,8m²) đang quản lý là phù hợp.

Tuy nhiên căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của ông Lý Văn L thể hiện trên đất có nhà ở, nhà tạm sửa xe, mái che, nhà trống để sản xuất chậu hoa kiểng. Không thể buộc ông L giao trả đủ diện tích 708,8m². Ông L có nghĩa vụ tháo dỡ cổng sắt, kẻm B40; 01 phần hàng rào B40 (giáp đường); tháo dỡ ngôi nhà tạm, cột xi măng, lợp tol (nhà đổ chậu kiểng) và đập phá một phần nhà vệ sinh phía sau nhà ở chính của ông L và chặt thu dọn cây trái trên đất để giao trả cho bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C phần đất diện tích 552m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 352m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Đông giáp thửa số 284 dài 11,17m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 10m; Nam giáp phần còn lại của thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m; Bắc giáp thửa số 260 dài 24,01m + 29,48m. Phần đất có giá trị 3.354.504.000 đồng. Ông L có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất còn lại 708,8m² – 552m² = 156,8m² cho bà G, ông B, anh C.

Căn cứ vào biên bản định giá ngày 09-8-2023 của Hội đồng định giá, xác định giá trị phần đất tranh chấp là 8.615.000.000đồng/1.417,6m², tương ứng với 6.077.000 đồng/m². Như vậy ông L phải thanh toán là 156,8m² x 6.077.000 đồng/m² = 952.873.600 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu phản tố của ông Lý Văn L: Từ những phân tích nêu trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông L trả lại ½ diện tích đất, còn lại ½ diện tích ông L được quyền sử dụng, do đó có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông L.

Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý Văn L một phần đất diện tích 865,6m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 665,6m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Tây giáp đường nhựa 782 dài 24,45m; Nam giáp thửa số 265 dài 8,33m + 18,53m + 10,28m và giáp thửa số 293 dài 33,53m; Bắc giáp phần giao trả cho bà G, ông C, ông B, thuộc thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m. Phần đất có giá trị 5.260.251.000 đồng.

[2.4] Xét yêu cầu độc lập của anh Lý Tấn T1: Như phân tích phần trên, phần đất ông Lý Văn L quản lý tại thửa 266, tờ bản đồ 33, diện tích 1.417,6m² đã bị UBND huyện G thu hồi hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông L. Do đó ông L không còn quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho anh T1; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lý Văn L và anh Lý Tấn T1 vô hiệu. Nên yêu cầu của anh T1 được quyền sử dụng đất phần đất diện tích 158,9m²; thửa thêm 596, tờ bản đồ 33 là không có căn cứ chấp nhận.

Hội đồng xét xử, xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lý Thị G; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Sửa bản án sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

[3]. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà G, ông B, anh C nhận chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Ghi nhận bà G đã nộp xong.

[4]. Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của bà G, ông B, anh C được chấp nhận nên không phải chịu án phí; ông L là người cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Lý Thị G số tiền 8.700.000 (tám triệu bảy trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo ba biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013000 ngày 01-6-2021 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), số 0012473 ngày 02-11-2020 số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và số 0000183 ngày 27-02-2020 số tiền 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm ngàn đồng) của C3 cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Anh Lý Tấn T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lý Thị G được chấp nhận và bà thuộc trường hợp được miễn án phí, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lý Thị G.

    Sửa Bản án sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

  2. Căn cứ vào các Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 170 và Điều 195 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” của bà Lý Thị G; ông Lý Văn B, anh Lý Trung C đối với ông Lý Văn L về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đối với diện tích đất thực tế 1.417,6m² (loại đất ONT: 400m², CLN: 1.017,6m²) thuộc các thửa số 595, 596, 597, tờ bản đồ số 33 (bản đồ 2000), tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Buộc ông Lý Văn L có nghĩa vụ tháo dỡ cổng sắt, kẽm B40; 01 phần hàng rào B40 (giáp đường); tháo dỡ ngôi nhà tạm cột xi măng, mái tol, dừng vách tol; phá dỡ một phần nhà vệ sinh và chặt thu dọn cây trái trên đất để giao cho bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C được sử dụng một phần đất diện tích 552m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 352m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Đông giáp thửa số 284 dài 11,17m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 10m; Nam giáp phần còn lại của thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m; Bắc giáp thửa số 260 dài 24,01m + 29,48m; tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C có quyền và nghĩa vụ yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 552m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 352m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Đông giáp thửa số 284 dài 11,17m; Tây giáp đường nhựa 782 dài 10m; Nam giáp phần còn lại của thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m; Bắc giáp thửa số 260 dài 24,01m + 29,48m; tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Ông Lý Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C số tiền 952.873.600 (Chín trăm năm mươi hai triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    - Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lý Văn L với anh Lý Tấn T1 lập ngày 28-02-2017 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lý Văn L với anh Lý Tấn T lập ngày 24-6-2019 là vô hiệu.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lý Văn L yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất

    Ông Lý Văn L được quyền quản lý sử dụng một phần đất diện tích 865,6m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 665,6m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Tây giáp đường nhựa 782 dài 24,45m; Nam giáp thửa số 265 dài 8,33m + 18,53m + 10,28m và giáp thửa số 293 dài 33,53m; Bắc giáp phần giao trả cho bà G, ông C, ông B, thuộc thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m; tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Ông Lý Văn L có quyền và nghĩa vụ yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 865,6m²(loại đất ONT: 200m², CLN: 665,6m²), thửa 266, tờ bản đồ 33 (bản đồ 2005); có tứ cận như sau: Tây giáp đường nhựa 782 dài 24,45m; Nam giáp thửa số 265 dài 8,33m + 18,53m + 10,28m và giáp thửa số 293 dài 33,53m; Bắc giáp phần giao trả cho bà G, ông C, ông B, thuộc thửa số 266 dài 24,20m + 37,15m; tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo quy định pháp luật.

  4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lý Tấn T1 yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế 158,9m² thuộc thửa số 596, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  5. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà G, ông B, anh C nhận chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Ghi nhận bà G đã nộp xong.
  6. Về án phí:
    • 6.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Thị G, ông Lý Văn B, anh Lý Trung C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ông Lý Văn L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

      Hoàn trả lại cho bà Lý Thị G số tiền 8.700.000 (tám triệu bảy trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo ba biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013000 ngày 01-6-2021 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), số 0012473 ngày 02-11-2020 số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và số 0000183 ngày 27-02-2020 số tiền 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm ngàn đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

      Anh Lý Tấn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023831 ngày 10-11-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

    • 6.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lý Thị G không phải chịu án phí phúc thẩm.
    • Hoàn trả cho bà Lý Thị G tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0013976 ngày 19-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. H. Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS. H.Gò Dầu;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 347/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 347/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger