Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Quang
  • 2. Ông Đỗ Tiến Bình
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1114/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Long Tuyết T, sinh năm 1992. (Có mặt)
  2. Địa chỉ: 2 Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Liêu Văn K, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 2 Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn bà Long Tuyết T trình bày:

Bà và ông K tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới từ năm 2020 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2020 do Ủy ban nhân dân Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2020.

Sau khi cưới cả hai về chung sống tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo bà T trình bày hai vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp, mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng hay xảy ra tranh cãi. Hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không thu được kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có sống chung cũng không hạnh phúc nên bà T xin ly hôn với ông K để mỗi người sớm ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Bà T khai cả hai có 01 con chung tên Liêu Ngọc Bảo K1, sinh ngày 18/9/2020. Ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T khai cả hai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có.

Bị đơn – ông Liêu Văn K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày.

Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn - bà Long Tuyết T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Liêu Văn K. Đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn – ông Liêu Văn K đang cư ngụ tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Toà án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2020 ngày 17/7/2020 do Ủy ban nhân dân Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân giữa bà T và ông K là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 175, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về hôn nhân, bà T có yêu cầu ly hôn với ông K. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông K có nhiều mâu thuẫn dẫn đến không hạnh phúc. Toà án đã nhiều lần triệu tập ông K đến Toà để trình bày ý kiến và giải quyết vụ án nhưng ông K vắng mặt, cũng không có ý kiến gì gửi cho Tòa chứng tỏ sự thiếu thiện chí trong việc mong muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng của bà T và ông K không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

[2.2] Về con chung: Bà T khai cả hai có có 01 con chung tên Liêu Ngọc Bảo K1, sinh ngày 18/9/2020. Hiện con đang ở với mẹ và do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà T nên để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông K.

[2.3] Về tài sản chung: Bà T khai cả hai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông K vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[2.4] Về nợ chung: Bà T khai không có, ông K vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/10/2020, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Long Tuyết T:
    • - Về hôn nhân: Bà Long Tuyết T được ly hôn với ông Liêu Văn K.
    • - Về con chung: Giao 01 con chung tên Liêu Ngọc Bảo K1, sinh ngày 18/9/2020 cho bà Long Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Liêu Văn K do bà T không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Ông Liêu Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà Long Tuyết T và gia đình không được cản trở ông K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có.
  1. Về án phí:

Bà Long Tuyết T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số 0024406 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà T không phải nộp thêm án phí.

  1. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - UBND Phường 9, Q.Tân Bình (để
  • ghi vào sổ hộ tịch đối với giấy CNKH
  • số 63/2020 ngày 17/7/2020);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 347/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 347/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và K ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger