|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 347/2024/HS-ST Ngày 23/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hồ Sĩ Tiến
Bà Văn Thị Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 331/2024/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Mai Đình P, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: 40/28 đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: D đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Mai Đình Đ, sinh năm 1971; Mẹ: Võ Thị Minh H1, sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 6 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
-
Lê Thị Thảo M, sinh năm 1997 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú và chỗ ở: 3 đường L, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Lê Văn H2, sinh năm 1960; Mẹ: Bùi Thị X, sinh năm 1970; Có 01 người con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 6 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/06/2024, tại nhà số D đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Công an phường G1, thành phố V bắt quả tang Mai Đình P và Lê Thị Thảo M có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Mai Đình P và Lê Thị Thảo M khai nhận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, sau khi ăn uống tại quán “Alo 100” trên Đường C, phường T, thành phố V, Mai Đình P cùng với Lê Thị Thảo M, Mai Ngọc H3 đi về nhà trọ của P ở số D đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để ngủ. Đến khoảng 09 giờ ngày 08/6/2024, Phước thức dậy, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã có sẵn ma túy trong nỏ thủy tinh được P cất giấu ở phía sau máy giặt đem ra hút 02 hơi. Lúc này, thấy M cũng tỉnh dậy nên P rủ M sử dụng ma túy đá, M đồng ý nên P đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà P đang sử dụng cho M, trong nỏ thủy tinh vẫn còn một ít ma túy. Tiếp đến, P lấy bật quẹt đốt lên cho M sử dụng, M hút được 02 hơi thì hết ma túy. Lúc này, P hỏi M có tiếp tục sử dụng ma túy không thì M đồng ý và nói sẽ góp 200.000 đồng để mua ma túy. Do không có tiền mặt nên M gọi H3 dậy nói là cần 200.000 đồng tiền mặt để mua đồ ăn nên Mai Ngọc H3 đưa cho M 200.000 đồng tiền mặt rồi H3 tiếp tục ngủ. Sau đó, M đưa cho P một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, P đi ra ngoài rút thêm 300.000 đồng trong tài khoản của mình rồi đi đến khu vực Xóm L, phường T, thành phố V mua một gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và mua đồ ăn sáng. Sau khi mua được ma túy, P mang cất giấu gói ma túy vào chỗ bàn phím máy tính để trên bàn trong phòng trọ của mình rồi đi ngủ. Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/4/2024, Công an phường G1, thành phố V kiểm tra, phát hiện gói ma túy do P cất giấu ở bàn phím máy tính trên bàn trong phòng của P, đồng thời thu giữ vật chứng như trên. P và M khai nhận cùng nhau góp tiền mua gói ma túy trên.
Lời khai của Mai Đình P và Lê Thị Thảo M phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Bùi Viết G (các bút lục điều tra từ số F - 90 và 93 đến 110).
Tại Kết luận giám định số 352/KL-KTHS-MT ngày 13/6/2024 của phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận: 01 gói nylon chứa chất kết tinh, không màu, trong suốt được niên phong thu giữ của Mai Đình P và Lê Thị Thảo M;
Mẫu A gửi đến giám định có khối lượng 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
H4 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
* Cơ quan Công an thu giữ vật chứng:
01 (Một) gói nylon dạng túi zip bên trong có chứa chất kết tinh không màu-trong suốt và 01 (một) đoạn ống nhựa mà xanh; (theo kết quả giám định có khối lượng 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine).
01 (Một) nỏ thủy tinh;
01 (Một) bình nhựa bên trong có chứa nước, phía trên nắp có đục 02 (hai) lỗ tròn, 01 (một) lỗ có cắm ống hút và 01 (một) lỗ cắm nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy.
01 (Một) cái quẹt ga màu trắng bị vỡ phần đầu;
01 (một) cái quẹt ga màu vàng.
* Xử lý vật chứng:
Tất cả vật chứng và tài sản được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 310/CT-VKSTPVT ngày 25/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố:
Mai Đình P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Lê Thị Thảo M, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo Mai Đình P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Hành vi bị cáo Lê Thị Thảo M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ theo khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Đình P từ 15-18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Đình P từ 24-30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 tội đối với bị cáo P.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Thảo M từ 15-18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:
Tịch thu tiêu hủy:
01 (Một) gói nylon dạng túi zip bên trong có chứa chất kết tinh không màu-trong suốt và 01 (một) đoạn ống nhựa mà xanh; (theo kết quả giám định có khối lượng 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine).
01 (Một) nỏ thủy tinh;
01 (Một) bình nhựa bên trong có chứa nước, phía trên nắp có đục 02 (hai) lỗ tròn, 01 (một) lỗ có cắm ống hút và 01 (một) lỗ cắm nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy.
01 (Một) cái quẹt ga màu trắng bị vỡ phần đầu;
01 (một) cái quẹt ga màu vàng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/6/2024, tại nhà số D đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường G1, thành phố V bắt quả tang Mai Đình P và Lê Thị Thảo M đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine, P và M tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Trước đó, Mai Đình P còn có hành vi tổ chức cho Lê Thị Thảo M sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của mình vào ngày 08/6/2024.
Như vậy, hành vi bị cáo Mai Đình P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Hành vi bị cáo Lê Thị Thảo M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tính đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 (Một) gói nylon dạng túi zip bên trong có chứa chất kết tinh không màu-trong suốt và 01 (một) đoạn ống nhựa mà xanh; (theo kết quả giám định có khối lượng 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine) là chất nhà nước cấm lưu hành.
01 (Một) nỏ thủy tinh; 01 (Một) bình nhựa bên trong có chứa nước, phía trên nắp có đục 02 (hai) lỗ tròn, 01 (một) lỗ có cắm ống hút và 01 (một) lỗ cắm nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (Một) cái quẹt ga màu trắng bị vỡ phần đầu; 01 (một) cái quẹt ga màu vàng, các cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.
[6] Đối với người thanh niên bán ma túy cho P (không rõ nhân thân lai lịch), đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Mai Ngọc H3, không liên đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của P và M vào ngày 08/6/2024 nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố:
Bị cáo Mai Đình P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Lê Thị Thảo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Đình P: 02 (H5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Căn cứ theo khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Mai Đình P: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo Mai Đình P phải chịu mức án là: 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Thảo M: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 (Một) gói nylon dạng túi zip bên trong có chứa chất kết tinh không màu-trong suốt và 01 (một) đoạn ống nhựa mà xanh; (theo kết quả giám định có khối lượng 0,3424 gam, là ma túy, loại Methamphetamine).
01 (Một) nỏ thủy tinh;
01 (Một) bình nhựa bên trong có chứa nước, phía trên nắp có đục 02 (hai) lỗ tròn, 01 (một) lỗ có cắm ống hút và 01 (một) lỗ cắm nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy.
01 (Một) cái quẹt ga màu trắng bị vỡ phần đầu;
01 (một) cái quẹt ga màu vàng.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 332BB - CCTHADS ngày 26/9/2024.
-
Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Mai Đình P và Lê Thị Thảo M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 347/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 347/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Đinh P - Lê Thị Thảo M - tảng trữ trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
