|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3464/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
và tranh chấp quyền nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 428/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3992/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4956/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1982 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số E Đường số D, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: Số A Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Lâm D, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số E Đường số D, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày:
Bà X và ông Nguyễn Lâm D tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số I/2024 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 01/3/2004.
Sau khi kết hôn, ông D và bà X sinh sống tại địa chỉ: Số E Đường số D, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân xuất phát từ việc ông D thường ghen tuông vô cớ, có hành vi đánh đập bà và dùng những lời lẽ xúc phạm gia đình bên ngoại. Hai người không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà X và ông D có 01 người con chung đã thành niên tên Nguyễn Xuân V, sinh ngày 21/7/2004 và 01 người con chung chưa thành niên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014. Hiện con chung Nguyễn Xuân T đang do bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Bà X yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con. Bà X không đồng ý giao con cho ông D nuôi vì ông D đã từng hù dọa chém con, bà vô can ngăn thì ông D còn đánh bà.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bị đơn ông Nguyễn Lâm D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông D không đồng ý ly hôn vì xác định vẫn còn tình cảm với bà X, muốn vợ chồng đoàn tụ để có trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Trong 20 năm vợ chồng cung sống với nhau, không có việc ông đánh bà X, có chăng chỉ là việc hai bên xẩy ra cãi vã, ông hất tay, đẩy bà X. Do còn thương vợ nên thỉnh thoảng ông có hù dọa giết để bà X quay về nhà chứ không có ý định như vậy.
Về con chung: Ông và bà X có 01 người con chung đã thành niên tên Nguyễn Xuân V, sinh ngày 21/7/2004 và 01 người con chung chưa thành niên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014.
Trường hợp Tòa tuyên bố ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên Nguyễn Xuân T, không yêu cầu bà X phải cấp dưỡng nuôi con. Ông không đồng ý giao con cho bà X nuôi vì thu nhập của bà X thấp, đang ở phòng trọ không đủ để lo cho cuộc sống của hai mẹ con. Mặt khác, bà X chơi thân với nhóm bạn thường xuyên tụ tập, đàn đúm. Điều đó không tốt cho sự phát triển của đứa trẻ.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Không có
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Nguyễn Lâm D; giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng; ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con. Bị đơn ông Nguyễn Lâm D có nơi cư trú tại địa chỉ: Số E Đường số D, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Lâm D có đơn xin vắng mặt, không tham gia phiên tòa. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
-
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Lâm D tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số I/2024 ngày 01/3/2024. Do đó, căn cứ Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa ông D, bà X là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Nguyễn Lâm D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời khai của đương sự có thể khẳng định mâu thuẫn gia đình của ông D, bà X đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa ông D và bà X không tồn tại tình cảm vợ chồng, không có sự yêu thương, sự quan tâm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống do hai người đã không còn sống chung với nhau. Ông D không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với bà X nhưng tình cảm đó chỉ xuất phát từ một phía, không thể mang lại hạnh phúc cho người còn lại. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho các bên đương sự, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, chấp nhận cho bà Phạm Thị X được ly hôn ông Nguyễn Lâm D theo quy định Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
-
Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời khai của đương sự thể hiện ông D và bà X có 01 người con chung đã thành niên tên Nguyễn Xuân V, sinh ngày 21/7/2004 và 01 người con chung chưa thành niên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014. Hiện trẻ Nguyễn Xuân T đang sống với bà X. Ông D và bà X đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con chưa thành niên, không yêu cầu bên còn lại phải cấp dưỡng nuôi con.
Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét nguyện vọng và phải đảm bảo sự phát triển tốt mọi mặt của con chưa thành niên. Tại bản tự khai, trẻ Nguyễn Xuân T trình bày nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận việc giao trẻ Nguyễn Xuân T cho bà X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà X không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà X về việc không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên Nguyễn Xuân T.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông D, bà X xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị X phải chịu án phí ly hôn là 300,000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị X.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị X về việc được ly hôn ông Nguyễn Lâm D.
-
Về con chung: Ông Nguyễn Lâm D và bà Phạm Thị X có 01 người con chung đã thành niên tên Nguyễn Xuân V, sinh ngày 21/7/2004 và 01 người con chung chưa thành niên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014.
Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12/5/2014 cho bà Phạm Thị X trực tiếp nuôi dưỡng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị X về việc không yêu cầu ông Nguyễn Lâm D phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết quan hệ về tài sản chung và nợ chung.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị X phải chịu án phí lý hôn là 300,000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300,000 đồng bà X đã nộp theo biên lai thu tiền số 0025386 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà X đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Lâm D và bà Phạm Thị X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Thị Lượng Huỳnh Tiến D1 |
Lê Thị Minh |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh |
Bản án số 3464/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
- Số bản án: 3464/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Cho ly hôn
