Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2024/HS-ST

Ngày: 13/12/2024.

Đông.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Phúc- Bí thư đoàn phường Mộ Lao

2. Bà Lê Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, TAND quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 312/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 327/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Văn Phú L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/11/2005; HKTT: Tổ H, phường V, quận H, TP .. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Văn Phú T, sinh năm: 1981; Mẹ đẻ: Ngô Thị T1, sinh năm: 1984; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: 04.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2020/HSST ngày 18/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP . xử phạt Văn Phú L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng, về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày 18/02/2023.

+ Quyết định số 62/QĐ-TA ngày 16/9/2021 của của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Văn Phú L 24 (hai mươi tư) tháng. Chấp hành xong ngày 20/9/2023.

+ Ngày 30/6/2021, bị Công an quận H, TP . xử phạt vi phạm hành chính đối với Văn Phú L bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 30/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, TP . khởi tố Văn Phú L về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự. Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 để điều tra theo thẩm quyền.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T4. D chỉ bản số 730 ngày 20/9/2024 lập tại Công an quận H. Có mặt

- Bị hại: Anh Vũ Quang T2, Sinh năm: 2010, Địa chỉ: Số B Ngõ H T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện của anh T2: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Số B Ngõ H T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; Có Đơn xin vắng mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích N1- TGV pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị N, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Số B Ngõ H T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; Có Đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Văn Phú L, sinh năm(SN) 2005, hộ khẩu thường trú(HKTT): tổ H phường V, quận H, TP . Hà Nội) và Vũ Quang T2, SN 2010, HKTT: Số B Ngõ H T, phường N, quận H, TP . Hà Nội là bạn bè quen biết ngoài xã hội với nhau. Quá trình chơi với nhau thì L thường xuyên dùng xe máy cá nhân chở T2 đi chơi. Đến cuối tháng 8/2024, thì L bị Công an tạm giữ xe máy do vi phạm luật giao thông đường bộ nên không có xe để đi lại. Trong khoảng thời gian này L thường xuyên nhắn tin rủ T2 đi chơi nhưng T2 không trả lời tin nhắn của L. Lúc này, L thấy T2 có sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29BA - 010.81 để làm phương tiện đi lại. Do nghĩ T2 chơi xấu mình nên L đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe của T2 để sử dụng cho bản thân.

Chiều ngày 03/9/2024, L và T2 đang uống nước với nhau tại phường V. Lúc này, L hỏi mượn chiếc xe máy biển kiểm soát 29BA-010.81 của T2 và đi ra khu vực chợ H thuộc phường N, quận H, TP . Hà Nội gặp ông Phạm Văn D1, SN 1966, HKTT: phường H, quận H, TP . (làm nghề đánh chìa khóa) đánh thêm 01(một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, có phần đầu bằng kim loại và chuôi bọc nhựa màu đen để mở được khóa xe của T2 (khi thuê ông D1 đánh chìa khóa thì L nói với ông D1 đây là xe của L, mục đích L đánh thêm chìa khóa để sử dụng). Sau khi đánh thêm được chìa khóa xe của T2, L cất chiếc chìa khóa mới làm vào túi quần đang mặc, trả lại chiếc xe cho T2 rồi đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/9/2024, T2 điều khiển xe máy biển kiểm soát 29BA-010.81 đến nhà L tại Tổ H, phường V, quận H, TP . để chơi. Khi đến T2 để chiếc xe trước cửa nhà L (có khóa cổ xe) rồi đi lên phòng ngủ của L tại tầng 3 ngồi nói chuyện với L. Lúc này, do đã có ý định lấy trộm xe của T2 từ trước nên khi T2 đang ngồi chơi ở phòng ngủ của L tại tầng 3, L nói với T2 là L đi tắm. Nhưng L không đi tắm mà mặc áo chống nắng che kín người, lấy chiếc chìa khóa đã đánh sẵn trước đó mở khóa điện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29BA-010.81 của T2 và điều khiển chiếc xe của T2 đi đến Chung cư U thuộc phường L, quận H, TP . cất giấu, L gửi xe của T2 dưới tầng hầm của chung cư rồi đi xe ôm đi về nhà lên phòng chơi với T2. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, T2 lấy xe để đi về nhà thì phát hiện chiếc xe đã bị mất, T2 gọi L xuống cùng đi tìm xe cho T2 nhưng không thấy nên T2 ra về.

Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, L đến chung cư U trên lấy chiếc xe máy biển kiểm soát: 29BA-010.81 mang của T2 mang về nhà sử dụng cho bản thân. Trong quá trình sử dụng do lo sợ bị phát hiện nên L đã tháo, vứt bỏ chiếc biển kiểm soát số 29BA-010.81 của chiếc xe. Đến ngày 15/9/2024, Vũ Quang T2 đến Công an phường V sự việc mất trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29BA - 010.81 vào ngày 04/9/2024.

Ngày 16/9/2024, L đến Công an phường V xin đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã như nêu trên.

Vật chứng đã thu giữ (thu của Văn Phú L):

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh, không đeo biển kiểm soát, số khung RLHJA3936RY008828, số máy JA70E0264500 (đã qua sử dụng), là chiếc xe Văn Phú L đã chiếm đoạt của Vũ Quang T2;

- 01(một) chiếc chìa khóa bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, phần đầu bằng chim loại và chuôi bọc nhựa màu đen (đã qua sử dụng).

Vật chứng không thu giữ được:

01(một) chiếc biển kiểm soát số 29BA-010.81, là chiếc BKS gắn trên chiếc xe của Vũ Quang T2 do Văn Phú L đã chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã tổ chức truy tìm biển kiểm soát số 29BA-010.81 nhưng không tìm thấy.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H có Yêu cầu định giá tài sản số H, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H xác định giá trị của 01 (một) chiếc xe máy đã thu giữ nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 153 ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận (BL 19 -20): “Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, mầu xanh (không gắn biển kiểm soát), số máy: JA70E0264500, số khung: RLHJA3936RY008828 là 17.883.000 đồng”.

Đối với 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh-đen, không đeo kiểm soát, số khung RLHJA3936RY008828, số máy JA70E0264500 đã thu giữ nêu trên của Văn Phú L. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe được đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Đức A, SN 2001, HKTT: SỐ E Ngách G Đ, quận B, TP . Hà Nội. Tháng 7/2024, anh Nguyễn Bá T3, sinh năm 1963, HKTT: thị trấn T, huyện G, TP . (làm nghề mua bán xe máy cũ) mua lại chiếc xe của anh Nguyễn Đức A. Ngày 30/8/2024, anh T3 bán lại chiếc xe cho chị Lê Thị N (là mẹ của Vũ Quang T2) với giá 18.300.000 đồng khi mua có viết giấy bán xe và bàn giao đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức A; chiếc xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 15/10/2024 chị N làm đơn đề nghị xin lại xe. Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 6447 và đã trả lại chiếc xe máy đã thu giữ chị Lê Thị N là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01(một) chìa khóa bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, phần đầu bằng chim loại và chuôi bọc nhựa màu đen đã thu giữ của Văn Phú L là công cụ Văn Phú L đã sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an quận H chuyển chiếc chìa khóa đã thu giữ đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành dân sự quận H để chờ xử lý quyết định giải quyết (theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện KSND quận H).

Đối với ông Phạm Văn D1 là người đánh chìa khóa cho L vào ngày 03/9/2024. Kết quả điều tra xác định: khi đánh chìa khóa cho L, L có nói cho ông D1 biết chiếc xe là của L, mục đích L đánh chìa khóa để sử dụng, nhưng ông D1 không biết mục đích L đánh chìa khóa xe để chiếm đoạt chiếc xe của T2. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Phạm Văn D1 là đồng phạm với L về hành vi Trộm cắp tài sản là có căn cứ.

Tại cơ quan điều tra, Văn Phú L đã tự nguyện khai nhận về hành vi của của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 304/CT-VKS-HĐ ngày 13.11.2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Văn Phú L về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy bị cáo Văn Phú L về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo L từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét. Tịch thu tiêu hủy 01(một) chìa khóa bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, phần đầu bằng chim loại và chuôi bọc nhựa màu đen là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Trợ giúp viên pháp lý: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự. Đề nghị HĐXX xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận định giá, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Do cần có phương tiện đi lại, vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/9/2024, tại Tổ H, phường V, quận H, TP ., Văn Phú L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của Vũ Quang T2 tài sản là 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh, biển kiểm soát 29BA-010.81, số khung RLHJA3936RY008828, số máy JA70E0264500 giá trị 17.883.000 đồng (Mười bảy triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng).

* Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo L về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt tù và xử phạt hành chính về các hành vi vi phạm pháp luật. Ngày 30/9/2024, bị cáo còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, TP . khởi tố về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự. Cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại đã nhận lại tài sản là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) chìa khóa bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, phần đầu bằng chim loại và chuôi bọc nhựa màu đen là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quyết định truy tố bị cáo L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo L từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.

Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý.

Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải có biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe phòng ngừa chung nên cần phạt tù giam đối với bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Văn Phú L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo L 15 ( mười lăm) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) chìa khóa bằng kim loại dạng 6 cạnh dài 06cm, phần đầu bằng chim loại và chuôi bọc nhựa màu đen ( đã qua sử dụng) (Tình trạng các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông ngày 15/11/2024 phản ánh ).

4 Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng(hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm( chưa nộp).

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Cơ quan thi hành án quận Hà Đông;
  • - Bị cáo; bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 346/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 346/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Văn Phú L bị xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger