Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 346/2024/HSST

Ngày 29-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ninh; Ông Trương Bế Thiện

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân A - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 331/2024/TLHS-ST, ngày 05/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 340/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/11/2024 đối với:

Bị cáo: Lưu Sỹ A1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1994 tại Thái Nguyên.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 06/12. Con ông: Lưu Sỹ T, sinh năm 1971 (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Vợ con chưa có. Tiền sự: Không

- Tiền án: Bản án số 28/2022/HSST, ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2023.

- Nhân thân: Quyết định số 235/2018/QĐ-TA, ngày 09/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy 12 tháng đối với Lưu Sỹ A1. Chấp hành xong ngày 05/9/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 01/10/2024, Tổ công tác của Công an xã T, thành phố T làm nhiệm vụ tại xóm T, xã T, thành phố T, thì phát hiện 01 nam giới đang đi bộ trên lề đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra, nam giới trên khai tên là Lưu Sỹ A1 và tự giác lấy từ túi quần phía sau bên trái Anh đang mặc ra giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (theo Anh khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của Anh có khối lượng 0,145 gam (niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định).

Tại Kết luận giám định số 1073/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,145 gam.

Tại Cơ quan điều tra Lưu Sỹ A1 khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 01/10/2024, Anh đi xe ôm từ nhà tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xuống khu vực xã T, thành phố T mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực xóm T, xã T, thành phố T thì A gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua xong, A cất giấu ma túy vào túi quần phía sau bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng, khi đi được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an xã T bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Lời khai nhận của Lưu Sỹ A1 phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu T2, T3 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại Cáo trạng số 331/CT-VKSTPTN, ngày 05/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lưu Sỹ A1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Sỹ A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Sỹ A1 từ 21 đến 24 tháng tù.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ bì niêm phong ký hiệu T2, T3.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 15 giờ 00 phút, ngày 01/10/2024, tại xóm T, xã T, thành phố T, Lưu Sỹ A1 đang có hành vi tàng trữ 0,145 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã T, thành phố T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lưu Sỹ A1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật được quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Toà án xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; từng bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tuy nhiên bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên đã lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 21 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bị cáo không có mục đích mua bán nhằm kiếm lời, tại phiên toà bị cáo khai không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Các bì niêm phong ký hiệu T2, T3 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

[8]. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Sỹ A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lưu Sỹ A1 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/10/2024.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu T2, T3.

    (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 255/QĐ-VKSTPTN ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 346/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 346/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger