Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2025/DS-PT

Ngày: 25-11-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng dân

sự vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Ông Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Thu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 244/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 25 tháng 07 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 539/2025/QĐ-PT ngày 05/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Trương Thị Mỹ D, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ B, thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

Bị đơn: Vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh Y: sinh năm 1984 (có mặt); ông Phạm Văn V, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ A, thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt, xin xét xử vắng mặt).

Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Y; ông Phạm Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D trình bày như sau:

Ngày 25/5/2023, bà có cho vợ chồng ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y vay số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), thời hạn vay thoả thuận miệng với nhau khoảng 03 - 04 tháng kể từ ngày vay, bà Y, ông V phải có trách nhiệm trả cho bà. Lãi suất vay hai bên có thoả thuận miệng là 30%/năm. Mục đích bà Y, ông V vay để làm vốn kinh doanh. Khi vay, bà Y, ông V có viết giấy vay tiền ngày 25/5/2023 xác nhận số nợ trên, trong giấy vay hai bên không thoả thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, sau khoảng 04 tháng bà yêu cầu trả nhưng ông V, bà Y không trả cho bà số tiền gốc đã vay và lãi suất hai bên thoả thuận. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y có trách nhiệm trả cho bà số tiền đã vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) và lãi suất từ ngày vay đến nay theo mức lãi suất 1,66%/tháng (tạm tính đến ngày 28/02/2025) là 174.300.000đ (một trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng).

Đối với giấy xác nhận nợ ngày 25/5/2023, bà Nguyễn Thị Thanh Y nộp cho Toà án thì bà không đồng ý với giấy này. Lý do: Giấy xác nhận nợ ngày 25/5/2023 không liên quan đến giấy vay tiền ngày 25/5/2023 mà bà đã cung cấp cho Toà án. Giấy xác nhận nợ ngày 25/5/2023 bà Nguyễn Thị Thanh Y nộp cho Toà án bản photo hai bên đã thực hiện xong, không còn liên quan gì nữa.

Ngoài khoản vay bà khởi kiện trên thì bà Y, ông V không còn nợ bà khoản tiền nào khác. Số tiền bà khởi kiện ông V, bà Y là khoản tiền nợ gốc, không có việc cộng 400.000.000đ gốc và 100.000.000đ tiền lãi như bà Y trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Y trình bày: trước đây, vợ chồng bà có nợ bà Trương Thị Mỹ D nhiều khoản tiền khác nhau (bà không nhớ cụ thể). Đến tháng 4 năm 2023, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng bà không có khả năng trả nợ cho bà Trương Thị Mỹ D nên hai bên thoả thuận vợ chồng bà chuyển nhượng đất để cấn trừ nợ bà D. Vợ chồng bà không nhớ cụ thể cấn trừ bao nhiêu, sau khi cấn trừ nợ thì vợ chồng bà còn nợ bà Trương Thị Mỹ D 400.000.000đ, cộng với khoản nợ lãi là 100.000.000đ. Do đó, hai bên viết giấy xác nhận nợ ngày 25/5/2023 với nội dung vợ chồng bà còn nợ lại bà D là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng), hai bên có thoả thuận cụ thể số tiền trên không có lãi suất, thời hạn trả hai bên không thoả thuận; sau đó bà D mới yêu cầu vợ chồng bà viết giấy vay tiền cùng ngày 25/5/2023 bà D đã cung cấp cho Toà án. Tuy nhiên, đầu năm 2025 bà Trương Thị Mỹ D có yêu cầu vợ chồng bà trả nợ, vợ chồng bà khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện trả nợ cho bà D được nên bà D mới khởi kiện. Do đó, bà Trương Thị Mỹ D khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Mỹ D số tiền đã vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) và lãi suất từ ngày vay đến nay theo mức lãi suất 1,66%/tháng (tạm tính đến ngày 28/02/2025) là 174.300.000đ (một trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng), vợ chồng bà chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền vay gốc là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng), còn lãi suất từ ngày vay đến nay là 174.300.000đ thì vợ chồng bà không đồng ý trả vì theo giấy xác nhận nợ bà cung cấp cho Toà án hai bên không thoả thuận lãi suất.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y. Buộc ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Mỹ D số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).
  2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D về việc yêu cầu ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y trả 174.300.000₫ (một trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng) lãi suất. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu nói trên của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án.

Bị đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng khoản nợ 500.000.000₫ là khoản nợ hai bên cấn trừ từ việc nợ và cấn trừ đất nên chốt nợ thành giấy vay tiền ngày 25/5/2023 nên không có việc thỏa thuận lãi và trả lãi nên việc nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà trả lãi là không đúng bản chất của giấy chốt nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Y, ông Phạm Văn V; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y nộp trong hạn luật định, người kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn V có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y;

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ gốc 500.000.000đ và cung cấp giấy vay tiền ngày 25/5/2023 với nội dung “Tôi Nguyễn Thị Yến T...chúng tôi có vay chị D Trương số tiền 500.000.000đ...” có chữ ký của bên vay bà Nguyễn Thanh Y, ông Phạm Văn V ( bút lục số 02). Bị đơn thừa nhận nhiều lần vay tiền của nguyên đơn, đến ngày 25/5/2023 hai bên cấn trừ đất và nợ nên chốt khoản nợ ngày 25/5/2023 thành giấy vay nợ. Do đó, xác định đây là tình tiết, sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, bị đơn kháng cáo cho rằng bản chất của khoản nợ 500.000.000₫ xuất phát từ việc cấn trừ đất và các khoản nợ gốc và lãi nên chốt thành khoản nợ 500.000.000đ nên không có việc thỏa thuận trả lãi, nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi của khoản nợ bị đơn không đồng ý. Tuy nhiên, khoản tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán, nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi.

Từ những phân tích trên, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nội dung vụ án; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Thanh Y và ông Phạm Văn V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo bà Nguyễn Thị Thanh Y và ông Phạm Văn V. Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 25 tháng 07 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y. Buộc ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Mỹ D số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng).

    “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

  2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D về việc yêu cầu ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y trả 174.300.000₫ (một trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng) tiền lãi.
  3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh Y và ông Phạm Văn V mỗi người phải nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002526 ngày 20/8/2025 và biên lai thu số 0002442 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 346/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 346/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo bà Nguyễn Thị Thanh Y và ông Phạm Văn V. Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 25 tháng 07 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger