TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:346/2025/DS-PT
Ngày:23-6-2025
V/v“Tranh chấp QSD đất và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dũng
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Ngọc Thanh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23/5/2025 và ngày 23/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 237/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Hồng T, sinh năm 1973;
- Bị đơn: Huỳnh Thị H, sinh năm 1950 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Đặng Thị Thanh T1, sinh năm 1971 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ H, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hồng T: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960 (có mặt); Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15/02/2022).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Tổ H, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
1
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Thanh T1: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960 (có mặt); Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15/02/2022).
- Nguyễn Văn M, sinh năm 1947 (vắng mặt);
- Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1980 (vắng mặt);
- Lê Tấn C, sinh năm 1965;
- Phạm Thị M1, sinh năm 1965;
- Lê Hoài T2, sinh năm 1991;
- Lê Thanh H1, sinh năm 1977 (vắng mặt);
- Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1974 (vắng mặt);
- Lê Minh D, sinh năm 1999 (vắng mặt);
- Lê Minh N1, sinh năm 2007 (vắng mặt);
- Lê Văn P1, sinh năm 1965 (vắng mặt);
- Đỗ Thị Trang Đ1, sinh năm 1967 (vắng mặt);
- Lê Minh P2, sinh năm 1992 (vắng mặt);
- Lê Minh T3, sinh năm 1994 (vắng mặt);
- Lê Minh T4, sinh năm 1996 (vắng mặt);
- Lê Thuận Thái Trung H2, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Lê Văn T5, sinh năm 1952 (vắng mặt);
- Võ Thị Kim H3, sinh năm 1953 (vắng mặt);
- Lê Hồng Y, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Ủy ban nhân dân huyện C
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Tấn C, bà Phạm Thị M1 và anh Lê Hoài T2: Anh Triệu Trọng Đ, sinh năm 1989; Địa chỉ: 3 N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 09/5/2025).
Người đại diện theo pháp luật của Lê Minh N1: Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số C, Tổ H, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tấn P3, chứ vụ Chủ tịch (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2
- Người kháng cáo: Ông Lê Tấn C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T ủy quyền cho ông Nguyễn Văn V đại diện trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của ông T nhận sang nhượng lại của bà Nguyễn Thị X (đã chết). Ngày 24/9/2004 các thành viên trong hộ bà Nguyễn Thị X làm thủ tục thừa kế xin chuyển nhượng quyền sử dụng (QSD) đất cho bà X để bà X chuyển nhượng QSD đất cho ông T. Cùng ngày 24/9/2004, bà X làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông T diện tích 111m², đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1267/691, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do hộ bà Nguyễn Thị X đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, được Phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện C ký xác nhận vào ngày 05/10/2004. Hiện nay, diện tích 111m², đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1267/691, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Nguyễn Hồng T đứng tên trong giấy chứng nhận QSD đất và được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C cấp ngày 05/10/2004.
Từ khi sang nhượng đất cho đến nay thì ông T có tới lui nhưng chưa xây dựng vật kiến trúc gì trên đất. Nay ông T phát hiện bà Huỳnh Thị H cũng được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích 111m², đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1267/691, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, bà H đã làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất đối với diện tích đất nói trên cho ông Lê Tấn C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất và đang xây dựng đào đất, đóng cọc trên diện tích đất của ông T.
Nay ông Nguyễn Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- + Thu hồi giấy chứng nhận QSD đất thửa số 1434, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Lê Tấn C ngày 02/7/2019.
- + Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 06/5/2019 giữa hộ bà Huỳnh Thị H với ông Lê Tấn C tại thửa 1434, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là vô hiệu.
- + Buộc hộ ông Lê Tấn C gồm Lê Tấn C, Phạm Thị M1, Lê Hoài T2 trả lại cho ông T theo đo đạc thực tế diện tích là 106,5m² có vị trí tại các mốc M1-M2-M3-M4-M1 theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 13/7/2022, đất trồng cây lâu năm và di dời toàn bộ tài sản trên đất thuộc thửa 1267/691, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với hộ bà X (hiện nay bà X đã chết) đã chuyển nhượng QSD đất cho ông T thì ông T không có tranh chấp gì đối với bà X và các con bà X, nếu
3
trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông T. Ông T đang giữ bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 1267.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị H trình bày: Nguồn gốc phần đất thửa 1434, có nguồn gốc là bà H nhận chuyển nhượng của anh Lê Thuận Thái Trung H2. Đến ngày 23/3/2011 bà H được đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất thửa 1434, tờ bản đồ số 7, diện tích 119,5m², đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, phần đất thửa 1434 bị thu hồi diện tích 14,6m² (loại đất LNK) theo quyết định số 2646, ngày 21/9/2012 của UBND huyện C, cho nên diện tích còn lại là 104,9m². Đến ngày 06/5/2019, bà H làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất trên cho ông Lê Tấn C, với giá chuyển nhượng trong hợp đồng là 310.000.000 đồng, hai bên đã thực hiện xong giao dịch và phần đất trên hiện ông Lê Tấn C đã đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất ngày 02/7/2019.
Việc chuyển nhượng được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, ông C đã sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H và ông C vì việc chuyển nhượng của bà là hợp pháp. Bà H không đồng ý việc ông T kiện bà H vì hiện nay phần đất tranh chấp ông C là người sử dụng đất và đứng tên QSD đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Ngọc P trình bày: Ông M, anh P thống nhất với lời trình bày của bà H, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn C, bà Phạm Thị M1, anh Lê Hoài T2 ủy quyền cho anh Triệu Trọng Đ đại diện trình bày: Ngày 06/5/2019, ông Lê Tấn C (tên thường gọi: Tám Chào hay Tám Trào) có nhận chuyển nhượng QSD đất của hộ bà Huỳnh Thị H đối với phần diện tích đất 106,5m², thuộc thửa số 1434, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (viết tắt là thửa 1434), theo giấy chứng nhận QSD đất số BD 535074 do UBND huyện C cấp ngày 23/3/2011.
Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất trên giữa ông C và bà H, thì ông C có kêu ông Nguyễn Hồng T xuống UBND xã B, lý do có mặt ông T tại thời điểm này vì ông T nói có đất ở gần đó. Tại buổi làm việc Địa chính xã B có mặt các bên gồm: Ông C, ông T, bà H xuống phần đất hiện nay đang tranh chấp, có sự chứng kiến của các hộ giáp ranh liền kề với phần đất. Nội dung buổi khảo sát là xác định phần đất bà H chuyển nhượng cho ông C không phải là phần đất ông T mua của bà X trước đây. Do Địa chính xã giải thích cho các bên nên không lập thành biên bản, ông C và ông T thống nhất nội dung là phần đất trên là của bà H, ông T không tranh chấp phần diện tích đất này. Ngày 02/7/2019, ông C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất số CR 884434 đối với phần diện tích đã nhận chuyển nhượng trên của hộ bà H. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng bà H có tiến hành bàn giao
4
phần diện tích đất trên thực tế cho ông C quản lý, sử dụng đến nay. Từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/5/20219 đến ngày được cấp giấy chứng nhận QSD đất sang tên ông C ngày 02/7/2019, mặc dù ông T biết rõ nhưng không phản đối.
Đến ngày 11/02/2022, ông C khởi công cất nhà, do phần đất là hầm hố sâu khoảng 3m so với mặt đường vì vậy ông C có mua 250 cây trụ đá loại 1,5m và đã thuê máy múc đóng hết số trụ đá trên xuống phần đất mà ông C nhận chuyển nhượng của bà H. Số trụ đá trên ông C mua của Cửa hàng V1 địa chỉ ở Ngã Ba Đ, huyện T. Sau đó vài ngày, Cán bộ Tư pháp xã và Địa chính Xã cùng cha con ông T đến không cho làm và nói khi nào Tòa án xử xong mới được xây dựng. Sau đó, Tòa án có có tiến hành thẩm định tại chỗ, Tòa án đã thu thập đủ giấy tờ mà trước kia ông C mua đất của bà H và giấy chứng nhận QSD đất Nhà nước cấp cho ông C. Tất cả các giấy tờ cũng như hiện trạng phần đất đều thể hiện phần diện tích đất trên ông C đã chuyển nhượng hợp pháp của bà H. Theo Công văn số 13988/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT, ngày 10/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C thể hiện nội dung: “Theo hệ thống bản đồ địa chính đang quản lý và sử dụng tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, diện tích đất trong phạm vi các mốc: từ mốc M1-M2-M3-M4 quay về M1, theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 13/7/2022 thuộc thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 7, được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Lê Tấn C, số giấy CR 884434, số vào sổ CS07086, cấp ngày 02/7/2019”.
Khi ông C nhận chuyển nhượng chỉ biết thửa 1434 là tài sản hợp pháp của bà H, được Nhà Nước cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà H. Đất ông C nhận chuyển nhượng là phần đất trống, hầm ao, không có bất kỳ tài sản hay cây trồng của ai khác trên phần diện tích đất trên. Ông C nhận chuyển nhượng phần diện tích đất trên của bà H theo đúng trình tự, thủ tục và đối tượng theo quy định pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế, phí cho Nhà N2. Khi ông C nhận chuyển nhượng có mặt ông T, khi đó ông T cùng ông C xuống phần đất để xác định lại rõ phần đất bà H chuyển nhượng cho ông C là của bà H, không phải là phần đất ông T nhận chuyển nhượng của bà X.
Từ các phân tích trên thấy rằng ông C đã nhận chuyển nhượng thửa 1434 của bà H một cách công khai và ngay tình, thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, ông C là người quản lý sử dụng phần diện tích đất trên, ông C đã tiến hành đóng 250 cây trụ đá để chuẩn bị làm nhà thì các bên phát sinh tranh chấp nên tạm ngưng lại chờ Tòa án giải quyết đến nay.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C không đồng ý. Đề nghị Tòa án giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 106,5m², thuộc thửa số 1434, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho ông Lê Tấn C quản
5
lý sử dụng. Ông C yêu cầu Tòa án thu hồi giấy chứng nhận QSD đất số 1267/691, tờ bản đồ số 7 đã cấp cho ông Nguyễn Hồng T do UBND huyện C cấp ngày 05/10/2004.
Trường hợp tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 06/5/2019 giữa hộ bà Huỳnh Thị H với ông Lê Tấn C tại thửa 1434, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C thì ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc hợp đồng vô hiệu trong vụ án này, các bên sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
Đối với công trình trên đất (trụ đá) do ông C xây dựng để cất nhà, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông T thì ông C không yêu cầu ông T trả lại giá trị. Ông C đang giữ bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 1434.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thuận Thái Trung H2 trình bày: Phần đất tranh chấp, anh H2 nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông Lê Văn P1. Trước đây anh H2 có nộp đơn yêu cầu độc lập nếu Tòa án tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa anh và ông P1 vô hiệu thì anh H2 yêu cầu ông Lê Văn P1 bồi thường cho anh H2 giá trị thửa đất số 1434, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo giá trị tại thời điểm giải quyết vụ án. Nay anh H2 xin rút lại yêu cầu này, lý do anh nhận chuyển nhượng thửa đất hợp pháp từ ông P1 và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất, sau đó anh H2 mới chuyển nhượng lại cho bà H. Các thủ tục chuyển nhượng là đúng quy định pháp luật nên anh không đồng ý việc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa anh H2 và ông P1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn P1 có ý kiến trình bày: Phần đất tranh chấp là mẹ của ông P1 tặng cho ông P1, vì vậy ông P1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất hợp pháp. Do điều kiện kinh tế khó khăn ông P1 đã chuyển nhượng phần đất này cho anh H2. Những vấn đề khác ông không biết, ông không liên quan gì trong vụ án này, xin được vắng mặt tại Tòa án.
Đối với Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1, bà Nguyễn Thị Hồng N, anh Lê Minh D, bà Đỗ Thị Trang Đ1, anh Lê Minh P2, anh Lê Minh T3, anh Lê Minh T4, ông Lê Văn T5, bà Võ Thị Kim H3, bà Lê Hồng Y đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án, không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T.
Tuyên bố các đồng chuyển nhượng QSD đất giữa hộ ông Lê Văn P1 với hộ anh Lê Thuận Thái Trung H2; giữa hộ anh Lê Thuận Thái Trung H2 và hộ bà
6
Huỳnh Thị H; giữa hộ bà Huỳnh Thị H với ông Lê Tấn C tại thửa 1434, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C là vô hiệu.
- - Buộc ông Lê Tấn C phải di dời toàn bộ công trình (trụ đá) trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Hồng T diện tích đất theo đo đạc thực tế là 106,5m² trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M1 theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 13/7/2022.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 13/7/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- - Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi giấy chứng nhận QSD đất số CR884434, số vào sổ CS07086, ngày 02/7/2019, đã cấp cho ông Lê Tấn C đối với diện tích 106,5m² (đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 1434, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp.
- - Hộ ông Nguyễn Hồng T và ông Lê Tấn C có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất theo bản án đã tuyên.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của anh Lê Thuận Thái Trung H2 về việc yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng:
Hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai nộp tạm ứng số 0007469 ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Bà Huỳnh Thị H không phải chịu án phí, thuộc trường hợp (người cao tuổi) được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho anh Lê Thuận Thái Trung H2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai nộp tạm ứng số 0004195 ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Ông Lê Tấn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 718.800 đồng (Bảy trăm mười tám nghìn tám trăm đồng).
Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Tấn C phải chịu chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá 3.753.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn). Do ông Nguyễn Hồng T đã nộp tạm ứng trước nên ông Lê Tấn C và bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hồng T số tiền 3.753.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
7
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 02/10/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn C kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm số: 262/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hồng T và công nhận diện tích đất 106,5m², thuộc thửa số 1434, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của ông C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn C, bà Phạm Thị M1, anh Lê Hoài T2 ủy quyền cho anh Triệu Trọng Đ đại diện trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông C. Bởi các căn cứ như: Ông Thái nhận chuyển nhượng đất tranh chấp từ bà Nguyễn Thị X thửa 1267, theo trích lục thửa đất có chiều ngang 4m x dài 28m, nhưng theo đo đạc thực tế có chiều ngang 5m x dài hơn 21m là có chênh lệch về diện tích; Việc ông T mua (nhận chuyển nhượng) thêm ngang 01m không được Tòa án sơ thẩm nhận định giải quyết trong vụ án; Đất ông C nhận chuyển nhượng của bà H thửa 1434 có đo đạc thực tế bằng máy, cụ thể năm 2012 khi Nhà nước thu hồi một phần đất của bà H có đo đạc, sau đó bà H mới chuyển nhượng đất cho ông C; Theo Công văn số 55 ngày 04/5/2023 của Công an huyện C thì hộ bà X khi chuyển nhượng đất cho ông T còn có bà Nguyễn Thị Hồng N, nhưng không có bà N ký chuyển nhượng; Thời điểm bà H chuyển nhượng đất cho ông C thì không có vật kiến trúc, tài sản gì của ông T trên đất và khi Nhà nước thu hồi diện tích đất 14,6m² có bồi thường cho bà H nhưng ông T không tranh chấp gì, điều đó chứng minh ông T không có quản lý, sử dụng đất. Ngoài ra, khi bà H chuyển nhượng đất cho ông C thì ông C có mời ông T cùng Địa chính Xã đến đất, khi đó ông T xác định không có phần đất nào của ông T, hiện nay ông C đã xuống (ép cọc) 250 trụ đá trên đất tranh chấp để chuẩn bị xây dựng nhà. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung Công văn số 1654 ngày 17/10/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C để xem xét chấp nhận kháng cáo của ông C và không chấp nhận khởi kiện của ông T.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Thanh T1 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn V đại diện trình bày: Không thống nhất kháng cáo của ông C. Bởi lẽ như: Ông Thái nhận chuyển nhượng QSD đất thửa 1267 hợp pháp từ bà Nguyễn Thị X và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 05/10/2004; Trước khi ông T nhận chuyển nhượng đất của bà X có đo đạc thực tế, còn việc chuyển nhượng đất từ bà H sang cho ông C là không có đo đạc thực tế; Việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông T được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật được thể hiện theo Công văn số 1509 ngày 19/10/2022 và Công văn số 1455 ngày 15/7/2024 của UBND huyện C; Diện tích đất ông T nhận chuyển nhượng từ bà X và nhận chuyển nhượng thêm từ ông P1 là phù hợp
8
diện tích đo đạc thực tế; Việc ông C cho rằng ông T chỉ đất tranh chấp không phải của ông T là không đúng, không có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn C thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Tấn C; tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án số: ...../PB-VKS-DS ngày 23/6/2025).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” là đúng quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn C không thống nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc ông C nộp đơn kháng cáo ngày 02/10/2024 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự: Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc P, Lê Thanh H1, Nguyễn Thị Hồng N, Lê Minh D, Lê Minh N1, Lê Văn P1, Đỗ Thị Trang Đ1, Lê Minh P2, Lê Minh T3, Lê Minh T4, Lê Thuận Thái Trung H2, Lê Văn T5, Võ Thị Kim H3, Lê Hồng Y vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện C vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của hộ bà Nguyễn Thị X được cấp QSD đất vào năm 1999 tại thửa 691, tờ bản đồ số 7, diện tích 2.017m², đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Đến năm 2004, bà X đại
9
diện hộ làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Hồng T từ một phần thửa 691 là thửa 1267/691 diện tích 111m². Sau khi nhận chuyển nhượng ông T đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 1267 vào ngày 05/10/2004. Phần diện tích còn lại của thửa 691 là 1.906m², bà X tặng cho con ruột là Lê Thanh H1 và ông H1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2008. Năm 2010, ông H1 làm thủ tục tặng cho thửa 691, diện tích 1.906m² cho ông Lê Văn P1. Khi được cấp QSD đất tại thửa 691 là 1.906m², đến năm 2010 thì ông P1 tiếp tục làm thủ tục tách thửa đất từ thửa 691 thành hai thửa là 1434/691, diện tích 119,5m² và thửa 1435/691, diện tích 1.786,5m². Sau đó, ông P1 chuyển nhượng toàn bộ thửa 1434/691 cho hộ anh Lê Thuận Thái Trung H2 vào năm 2010. Đến năm 2011, hộ anh H2 chuyển nhượng thửa 1434 lại cho hộ bà Huỳnh Thị H và bà H được cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2011. Năm 2019, bà H chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên lại cho ông Lê Tấn C và hiện thửa 1434 được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Lê Tấn C, sau đó ông C đã trồng trụ đá trên đất đã để chuẩn bị xây nhà. Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thu hồi giấy chứng nhận QSD đất thửa 1434 đã cấp cho ông Lê Tấn C ngày 02/7/2019, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 06/5/2019 giữa hộ bà Huỳnh Thị H với ông Lê Tấn C tại thửa 1434 là vô hiệu và buộc hộ ông Lê Tấn C trả lại cho ông T diện tích là 106,5m² theo đo đạc thực tế thuộc thửa 1267. Bị đơn ông Lê Tấn C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đất tranh chấp diện tích 106,5m² thuộc thửa 1434 do ông C nhận chuyển nhượng hợp pháp từ bà Huỳnh Thị H, ông C đã quản lý, sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận QSD đất đúng quy định của pháp luật. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp QSD đất và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa các đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T tuyên bố các đồng chuyển nhượng QSD đất giữa hộ ông Lê Văn P1 với hộ anh Lê Thuận Thái Trung H2; giữa hộ anh Lê Thuận Thái Trung H2 và hộ bà Huỳnh Thị H; giữa hộ bà Huỳnh Thị H với ông Lê Tấn C tại thửa 1434 vô hiệu và buộc ông C phải di dời toàn bộ công trình (trụ đá) trên đất để trả lại cho ông T đất tranh chấp diện tích theo đo đạc thực tế 106,5m² là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Việc ông C cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C và bà H, thì ông C có thông báo ông T đến UBND xã B, lý do có mặt ông T tại thời điểm này vì ông T nói có đất ở gần đó. Thời điểm này có mặt các bên gồm: ông C, ông T, bà H đến phần đất hiện nay đang tranh chấp, có sự chứng kiến của các hộ giáp ranh liền kề với phần đất. Nội dung buổi khảo sát là xác định phần đất bà H chuyển nhượng cho ông C không phải là phần đất ông T mua của bà X trước đây. Do Địa chính xã giải thích cho các bên nên không lập thành biên bản, ông C và ông T thống nhất nội dung là phần đất trên là của bà H, ông T không tranh chấp phần diện tích đất này, tuy nhiên việc này
10
không được ông T thừa nhận, ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng minh cho trình bày của mình là có cơ sở. Mặt khác, ông T cho rằng thời điểm ông T nhận chuyển nhượng đất từ bà X là có đo đạc theo diện tích ngang 04m dài 28m, sau đó ông T nhận chuyển nhượng thêm từ ông P1 ngang 01m x dài 24m theo Tờ hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 24/5/2010 thể hiện phần đất có tứ cận giáp đất ông P1 và đất ông T, cho thấy vị trí đất của ông T khi nhận chuyển nhượng của bà X và ông P1 thì phần đất ông T sử dụng có chiều ngang 5m phù hợp với Sơ đồ đo đạc ngày 13/7/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C và hiện tại, tại vị trí đất ông T đã mua đất không còn vị trí đất trống nào khác, nên ông T xác định vị trí đất hiện các bên đang tranh chấp là phần đất mà ông T đã nhận chuyển nhượng của bà X trước đây trùng lên vị trí mà ông C đã nhận chuyển nhượng từ bà H là có cơ sở.
Tại công văn số 1455/UBND-HC ngày 15/7/2024 của UBND huyện C, xác định thời điểm tách thửa chuyển nhượng năm 2004 tại thửa 1267/691 và thời điểm tách thửa chuyển nhượng tại thửa 1434/691 năm 2010 (lúc ông P1 làm hồ sơ tách thửa) là đều có đo đạc và kiểm tra hiện trạng thực tế, nhưng không xác định được nguyên nhân tại sao hai thửa đất trên được cấp cho hai người khác nhau nhưng lại cùng vị trí trên bản đồ địa chính. Tại công văn số 10066/CNVPĐKDĐĐHCL-CCTT của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 20/6/2024 cung cấp thông tin cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C xác định: Thời điểm lập hồ sơ tách thửa chuyển nhượng năm 2004, tại thửa 1267, thửa đất được xác minh vị trí, kích thước thửa đất qua bản đồ địa chính khu đất ngày 24/9/2004 của Ủy ban nhân dân xã B. Theo hồ sơ quản lý thửa đất có thực hiện đo đạc và kiểm tra hiện trạng thửa đất. Thời điểm lập hồ sơ tách thửa chuyển nhượng năm 2010, tại thửa 1434, thửa đất được xác minh vị trí, kích thước thửa đất qua biên bản đo đạc thực tế thửa đất ngày 19/5/2010 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Theo hồ sơ quản lý thửa đất có thực hiện đo đạc và kiểm tra hiện trạng thửa đất và có xác nhận các hộ giáp ranh ký tên. Như vậy, các thửa 1267 và thửa 1434 được lập hồ sơ tách thửa từ thửa 691 đều có khảo sát và đo đạc thực tế nhưng do hai cơ quan khác nhau đo đạc. Điều này có thể dẫn đến việc quản lý hồ sơ cấp đất chưa chặt chẽ dẫn đến việc cùng một vị trí đất lại cấp quyền sử dụng đất cho hai người khác nhau. Ngoài ra, khi lập hồ sơ tách thửa năm 2004 là do bà X lập, năm 2010 là do ông P1 lập nên dẫn đến việc ông P1 không xác định được vị trí trước đây bà X đã chuyển nhượng cho ông T.
Tại công văn 1509/UBND-TNMT ngày 19/10/2022 của Ủy ban huyện C xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1267 cho hộ ông Nguyễn Hồng T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Đồng thời, sau khi tách thửa 1267 vào năm 2004 từ thửa 691 thì diện tích còn lại của thửa 691 được cấp lại là có điều chỉnh giảm về diện tích (đã trừ ra diện tích được tách thửa là thửa 1267) nên đã đảm bảo đúng về diện tích được cấp sau khi tách thửa.
11
Về kích thước khi ông T nhận chuyển nhượng từ bà X là ngang 04 mét, dài 28 mét, nhưng sau đó ông T có thỏa thuận nhận chuyển nhượng thêm ngang 01 mét từ ông P1. Sau đó, Nhà nước có thu hồi một phần diện tích (cặp lộ) để mở rộng lộ nên diện tích còn lại hiện nay theo đo đạc thực tế là 106,5m² có vị trí tại các mốc M1-M2-M3-M4-M1 theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 13/7/2022 được xác định là thửa 1434 cùng vị trí trên bản đồ địa chính với thửa 1267. Như vậy, về diện tích khi ông T nhận chuyển nhượng là có chênh lệch nhưng đã được Ủy ban huyện C xác định cùng vị trí với thửa 1434 theo công văn 1509/UBND-TNMT ngày 19/10/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C cung cấp thông tin. Nên có cơ sở xác định việc ông T nhận chuyển nhượng đất của bà X từ năm 2004 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định.
Ngoài ra, Theo Tờ hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 24/5/2010 (từ ông P1 sang ông T) cũng thể hiện vị trí phần đất ông T nhận chuyển nhượng từ ông P1 có tứ cận giáp đất bà X và giáp đất ông T, cho thấy vị trí đất của ông T khi nhận chuyển nhượng của ông P1 ngang 1m x dài 24m thì phần đất ông T sử dụng có chiều ngang 5m phù hợp với Sơ đồ đo đạc ngày 13/7/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chuyển nhượng sau) từ hộ ông P1 chuyển nhượng cho hộ anh H2, hộ anh H2 chuyển nhượng cho hộ bà H, hộ bà H chuyển nhượng cho ông C mặc dù đảm bảo đúng hình thức, nội dung của hợp đồng, các bên đã hoàn thành xong hợp đồng, được cấp quyền sử dụng đất nhưng thực tế không có đất (do vị trí đất cấp bị trùng và đã cấp cho ông T). Căn cứ Điều 408 Bộ luật dân sự năm 2015 Tòa án sơ thẩm tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối tượng không thực hiện được là có căn cứ, nên chấp nhập nhận yêu cầu của ông T là có cơ sở.
Do các đương sự trong vụ án, không có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, nên Tòa án sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án này, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác là có căn cứ. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thuận Thái Trung H2 rút toàn bộ yêu cầu độc lập, việc rút yêu cầu của anh H2 là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, nên Toà án sơ thẩm đình chỉ yêu cầu độc lập của anh H2 là có cơ sở.
[4] Tại phiên tòa anh Triệu Trọng Đ là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Tấn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông C. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của anh Đ là không có đủ căn cứ, đồng thời ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
12
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tấn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Lê Tấn C không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tấn C;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Tấn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009191, ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tấn Lợi |
13
14
Bản án số 346/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp qsd đất và hợp đồng chuyển nhượng qsd đất
- Số bản án: 346/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng T - Huỳnh Thị H
