Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2024/HS-ST

Ngày 23/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hồ Sĩ Tiến

Bà Văn Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 330/2024/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1976 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: 5 đường T, phường C, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: số A đường P, phường G, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Cha: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1953 (đã mất); Mẹ: Nguyễn Thu S, sinh năm 1955; Vợ: Nguyễn Thị Lệ T2, sinh năm 1980; Con: có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/09/2014 Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 08 năm về tội "Cướp tài sản" (theo Bản án số 254/2014/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/09/2019, đã đóng án phí hình sự và nộp phạt.

Bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 50 phút, ngày 04/6/2024, tại khu vực cảng C, phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 3 - Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, phối hợp với Công an phường A, Thành phố V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức T đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine), đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 3 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 72K1-240.67 ra ngã ba D, phường L, Thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua ma túy của một người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch)với số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) rồi điều khiển xe đi về thành phố V. Vào khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực cảng C, phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thì bị tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 3 - Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, phối hợp với Công an phường A, Thành phố V phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng (các bút lục điều tra từ số 46 đến số E).

Lời khai của Nguyễn Đức T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục điều tra số14,15), phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Văn T4 (sinh năm: 1979; trú tại: số H đường C, Phường A, thành phố V (các bút lục điều tra số 63,64) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Bản kết luận giám định số 331/KL-KTHS-MT ngày 07/06/2024 của Phòng K1 (PC09), Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong, có hình dấu của Công an phường A - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Nguyễn Trường K, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Đức T, Lê Đức T5 bên trong có 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A). Mẫu A có khối lượng 1,1635 gam là ma túy, loại Methamphetamine.(bút lục điều tra số 71). Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

  • - 01 (một) phong bì màu trắng có dấu và dán niêm phong vụ số 331 của phòng PC09 Công an tỉnh B, dấu của Công an phường A - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Nguyễn Trường K, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Đức T, Lê Đức T5 bên trong phong bì chứa 02 (hai) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng giám định 1,1635gam;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; gắn sim số: 0933939351; số IMEI: 867251051652882 (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty màu đỏ với BKS: 72K1-240.67; số máy: M739M5009106; số khung: RP8M73401EV108010 (đã qua sử dụng).

Qua xác minh đứng tên chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H1 (sinh ngày : 26/05/1994; Trú tại: số D khu phố H, thị trấn L, huyện L, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Theo bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm: 1971; trú tại: khu phố H, thị trấn L, huyện L, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là mẹ anh H1 cho biết: anh H1 hiện đang trị bệnh tại quê là Thành phố P, Tỉnh Bình Thuận, anh H1 từng sở hữu chiếc xe trên nhưng đã bán. T5 khai nhận xe này T5 mua từ lâu và không có giấy tờ gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thông báo tìm chủ sở hữu, đến nay vẫn chưa có kết quả.

Vật chứng và tài sản trên hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 312/CT-VKSTPVT ngày 07/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng có dấu và dán niêm phong vụ số 331 của phòng PC09 Công an tỉnh B, dấu của Công an phường A - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bên trong phong bì chứa 02 (hai) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng giám định 1,1635gam;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; gắn sim số: 0933939351; số IMEI: 867251051652882 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty màu đỏ với BKS: 72K1-240.67; số máy: M739M5009106; số khung: RP8M73401EV108010 (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 17 giờ 50 phút, ngày 04/6/2024, tại khu vực cảng C, phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 3 - Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, phối hợp với Công an phường A, Thành phố V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức T đang tàng trữ trái phép 1,1635 gam là ma túy, loại Methamphetamine. T tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng có dấu và dán niêm phong vụ số 331 của phòng PC09 Công an tỉnh B, dấu của Công an phường A - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bên trong phong bì chứa 02 (hai) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng giám định 1,1635gam, vật chứng của vụ án là chất nhà nước cấm lưu hành;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; gắn sim số: 0933939351; số IMEI: 867251051652882 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty màu đỏ với BKS: 72K1-240.67; số máy: M739M5009106; số khung: RP8M73401EV108010 (đã qua sử dụng), bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.

[6] Đối với đối tượng nam thanh niên tên T3 là người bán ma túy cho T không rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T cần tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

    - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T: 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 6 năm 2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng có dấu và dán niêm phong vụ số 331 của phòng PC09 Công an tỉnh B, dấu của Công an phường A - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bên trong phong bì chứa 02 (hai) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng giám định 1,1635gam;
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; gắn sim số: 0933939351; số IMEI: 867251051652882 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty màu đỏ với BKS: 72K1-240.67; số máy: M739M5009106; số khung: RP8M73401EV108010 (đã qua sử dụng).

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06/BB - CCTHADS ngày 03/10/2024.

  4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 346/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 346/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger