|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Hồng Hải
- Ông Phạm Duy Bảo
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa : Trần Thị Hồng Phương.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2016/TLST-DS ngày 29 tháng 06 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sơn N, sinh năm 1976
Địa chỉ: D T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1978
Địa chỉ: A P, Phường A ( nay là Phường A) Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là các ông Nguyễn Sơn N trình bày :
Tháng 12 năm 2012, bà Nguyễn Thị Kim D (sau đây gọi tắt là bà D) thuê ông Nguyễn Sơn N (sau đây gọi tắt là ông N) lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận căn nhà A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà D đứng tên chủ sở hữu. Ngày 18 tháng 01 năm 2013 bà D ủy quyền cho ông N thay mặt lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đối với căn nhà nêu trên. Ngày 02 tháng 12 năm 2013 ông N và bà D có lập hợp đồng đặt cọc về việc bà D đồng ý chuyển nhượng căn nhà A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Sơn N với giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Và bà D đã nhận của ông N 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Phần còn lại sẽ nhận sau khi căn nhà nêu trên được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên từ cuối năm 2013 đến nay bà D đã đi đâu không rõ nên ông N không liên lạc được. Nay ông N yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả lại 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng) là tiền bà D đã nhận cọc bán nhà cho ông một lần ngay sau khi án có hiệu lực Pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Kim D không đến Tòa án làm việc, vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày đề nghị bị đơn thanh toán số tiền nhận cọc 200.000.000 đồng. Trả một lần ngay sau khi Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không rõ ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu :
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng : Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án : Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị :
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả cho nguyên đơn 200.000.000 đồng một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm do bị đơn chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp :
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc : “Tranh chấp đòi tiền đặt cọc” theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết :
Theo xác minh của Công an P (nay là Phường A) Quận E được biết: “Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1978 và người thân đã bán căn nhà số A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014....” Và xác minh ngày 22 tháng 4 năm 2024 được biết: “Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1978 tạm trú tại G T, Phường A, Quận F………” tuy nhiên khi cán bộ Toà án đến Công an P1, Quận F gửi xác minh được biết trên địa bàn phường không có đường T, đường này thuộc địa bàn Phường A, Quận F. Theo trả lời xác minh của Công an P2, Quận F được biết: “ Hiện nay không có địa chỉ số nhà G T, Phường A, Quận F ………” theo kết quả cung cấp thông tin số 590/UBND-TPHT của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E ngày 23 tháng 5 năm 2024 được biết: “Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1978 có đến Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E liên hệ đăng ký khai tử cho ông Võ Văn X, sinh năm 1951, địa chỉ A P, Phường A (nay là Phường A) Quận E vào ngày 26/10/2023” và trong đơn trình bày của nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn ngoài địa chỉ bà D ghi trong hợp đồng. Vì vậy căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định như sau: “ Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, theo quy định tại khoản 3, Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng xét xử vắng mặt bị đơn : Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng bà D vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012.
[4] Nội dung vụ án: Căn cứ vào Hợp đồng lập vào ngày 02 tháng 12 năm 2013 giữa ông Nguyễn Sơn N và bà Nguyễn Thị Kim D với nội dung: “Bà Nguyễn Thị Kim D đồng ý chuyển nhượng căn nhà A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Sơn N với giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Vào ngày 02 tháng 12 năm 2013, khi hợp đồng đặt cọc được hai bên ký kết, bà D nhận của ông N 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Phần còn lại, ông N và bà D cùng thống nhất: “... Sau khi căn nhà nêu trên được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản gắn liền với đất (GCN), ông N và bà D cùng đến phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà cho ông N theo đúng quy định pháp luật thì khi đó ông N sẽ thanh toán hết số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)...” đã đủ chứng minh ông N đã đưa cho bà D một khoản tiền, trong một thời hạn nhất định để bảo đảm giao kết thực hiện hợp đồng dân sự, việc đặt cọc này đã được lập thành văn bản theo đúng quy định tại Điều 358, Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên từ cuối năm 2013 đến nay bà D bỏ đi khỏi địa phương không thực hiện cam kết đã ký bán nhà cho ông N. Vì vậy để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, ông N yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả lại 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là tiền bà D đã nhận cọc bán nhà cho ông N là phù hợp theo quy định Pháp luật.
[5] Về thời hạn thanh toán Ông Nguyễn Sơn N yêu cầu bà bà Nguyễn Thị Kim D trả lại 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng) là tiền bà D đã nhận cọc bán nhà cho ông một lần ngay sau khi án có hiệu lực Pháp luật là phù hợp theo quy định nên có căn cứ chấp nhận.
Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[6] Về án phí : Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26 và điểm a Khoản 1 Điều 35; các Điều 147 ; 177 ; 227 ; 228 ; điểm b Khoản 2 Điều 235 ; các Điều 266; 271; Khoản 1, Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ;
- - Căn cứ các Điều 358; 389; 401; 405; 412; Khoản 1 Điều 414 của Bộ luật dân sự 2005
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 ;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV QH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ điểm b khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- - Căn cứ Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán tối cao quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm;
- - Căn cứ 04/2017/NQ ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn là ông Nguyễn Sơn N và vắng mặt bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim D.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Sơn N.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả ngay một lần cho ông Nguyễn Sơn N số 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là tiền bà D đã nhận cọc bán cho ông N theo thoả thuận ngày 02 tháng 12 năm 2013.
- Việc thanh toán tiền được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí : Án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) do bà Nguyễn Thị Kim D chịu. Hoàn lại cho ông Nguyễn Sơn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2012/07363 ngày 29/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
- Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Trần Thục Oanh |
Bản án số 96/2016/TLST-DS ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 96/2016/TLST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Hợp đồng lập vào ngày 02 tháng 12 năm 2013 giữa ông Nguyễn Sơn N và bà Nguyễn Thị Kim D với nội dung: “Bà Nguyễn Thị Kim D đồng ý chuyển nhượng căn nhà A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Sơn N với giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Vào ngày 02 tháng 12 năm 2013, khi hợp đồng đặt cọc được hai bên ký kết, bà D nhận của ông N 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Phần còn lại, ông N và bà D cùng thống nhất: “…Sau khi căn nhà nêu trên được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản gắn liền với đất (GCN), ông N và bà D cùng đến phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà cho ông N theo đúng quy định pháp luật thì khi đó ông N sẽ thanh toán hết số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)…” đã đủ chứng minh ông N đã đưa cho bà D một khoản tiền, trong một thời hạn nhất định để bảo đảm giao kết thực hiện hợp đồng dân sự, việc đặt cọc này đã được lập thành văn bản theo đúng quy định tại Điều 358, Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên từ cuối năm 2013 đến nay bà D bỏ đi khỏi địa phương không thực hiện cam kết đã ký bán nhà cho ông N. Vì vậy để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, ông N yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả lại 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là tiền bà D đã nhận cọc bán nhà cho ông N là phù hợp theo quy định Pháp luật.
