TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 345/2024/DS-PT
Ngày: 23-4-2024
V/v: tranh chấp hợp đồng
mua bán nhà
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Thẩm phán:
1/ Ông Trương Văn Hiền
2/ Bà Phạm Thị Thảo
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm Sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố H đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 725/2023/DS-PT ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán nhà”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1735/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 3485/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Cao Kim D, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số E, đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số C, đường B, Phường A, quận B, Thành phố H (theo giấy ủy quyền ngày 13/5/2019 lập tại Văn phòng C1) (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số B, đường T, khu phố C, phường T, quận B, Thành phố H (có mặt).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Thái Thị D1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số B, đường T, khu phố C, phường T, quận B, Thành phố H (có mặt).
2/ Phòng C2, Thành phố H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng Quảng T, sinh năm 1973
(theo giấy ủy quyền số 001/CC7 ngày 03/01/2020)
Địa chỉ: Số C, đường N, Phường A, Quận F, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng:
1/ Bà Lý Lợi M, sinh năm 1962 (có mặt).
2/ Ông Lâm C, sinh năm 1960 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số B, đường B, Phường A, Quận F, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày nội dung như sau:
Ngày 01/4/2013 bà Cao Kim D và em trai là ông Cao Văn Đ1 có vay của ông Hoàng Văn N số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Hoàng Văn N yêu cầu bà Cao Kim D, ông Cao Văn Đ1 thế chấp nhà đất số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H và giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003 cho ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1.
Đến ngày 13/11/2013, mặc dù chưa đến hạn thanh toán nhưng ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 yêu cầu bà Cao Kim D và ông Cao Văn Đ1 ký hợp đồng thanh lý đối với hợp đồng vay tài sản và ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBCN ngày 13/11/2013, theo đó bà Cao Kim D và ông Cao Văn Đ1 bán căn nhà số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H cho ông Hoàng Văn N với giá là 01 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong thực tế bà Cao Kim D không bán nhà cho ông Hoàng Văn N.
Bà Cao Kim D có nhận của ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 số tiền 600.000.000 đồng nhưng là tiền vay chứ không phải tiền mua bán nhà đất. Số tiền còn lại của hợp đồng mua bán căn nhà 50/28 đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H là 400.000.000 đồng ông N và bà D1 chưa thanh toán cho ông Đ1 và bà Cao Kim D.
Ngày 08/4/2016, Chi nhánh Văn phòng Đ2 đã cập nhật biến động sang tên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003.
Nay bà D1 khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét:
3
Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBCN ngày 13/11/2013 vô hiệu do giả tạo.
Hủy xác nhận cập nhật biến động sang tên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003.
Buộc ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 trả lại cho bà Cao Kim D bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2023 ngay khi bản án của Toà án có hiệu lực.
Ngoài ra, đối với yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1, bà Cao Kim D cho rằng do bà không bán nhà nên không đồng ý giao nhà cho ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1.
Đối với số tiền vay 600.000.000 đồng bà Cao Kim D sẽ trả lại tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật khi ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 có yêu cầu.
Bà Cao Kim D tự nguyện chịu các chi phí tố tụng bao gồm chi phí thẩm định giá căn nhà 5 đường L, Phường F, Quận H, Thành phố H là 13.200.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
Bị đơn trình bày:
Vào ngày 01/4/2013, ông Hoàng Văn N có ký hợp đồng cho ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng. Ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003.
Tuy nhiên, khoảng 07 tháng sau, ông Hoàng Văn N biết được bà Cao Kim D thông báo bán nhà đất số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H nên thỏa thuận mua nhà đất số E đường L, Phường F, Quận H với giá 01 tỷ đồng. Sau đó, hai bên ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBCN ngày 13/11/2013 tại Phòng C2.
Thực hiện hợp đồng, ông Hoàng Văn N đã thanh toán đủ tiền mua nhà cho ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D ngay sau khi ký hợp đồng, Chi nhánh Văn phòng Đ2 đã cập nhật tên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003.
Do bà Cao Kim D chưa có chỗ ở nên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 để cho bà Cao Kim D tiếp tục sử dụng căn nhà đã bán để ở thêm một thời gian.
Vì vậy, ông Hoàng Văn N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Cao Kim D.
4
Ông Hoàng Văn N có yêu cầu phản tố: Yêu cầu bà Cao Kim D giao nhà, đất tại địa chỉ số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H cho ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1.
Ông Hoàng Văn N yêu cầu Tòa án xem xét thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Hoàng Văn N đề nghị hỗ trợ chi phí di dời cho bà Cao Kim D số tiền là 70.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Phòng C2 đã thực hiện chứng nhận Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBCN ngày 13/11/2013 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Phòng C2 có đơn đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.
Bà Thái Thị D1 thống nhất như lời trình bày của ông Hoàng Văn N.
Người làm chứng trình bày: Từ tháng 7/2013 đến tháng 11/2013 bà Cao Kim D có treo bản bán nhà và nói với mọi người cần bán căn nhà 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H. Thời điểm đó người làm chứng là môi giới nhà đất có dẫn người đến xem 03 lần nhưng người mua không đồng ý mua, đến lần thứ tư thì được biết bà Cao Kim D đã bán nhà cho ông N với giá là 01 tỷ đồng nên bà không dẫn khách đến xem. Sau đó, có người hỏi mua nhà khu vực này nên người làm chứng có điện thoại cho ông N, ông N báo giá là 1.650.000.000 đồng nên khách không mua.
Đại diện của nguyên đơn và bị đơn thống nhất:
Chứng thư thẩm định giá số: 42/08/20/CYTĐG.APAK ngày 14 tháng 8 năm 2020 thì giá nhà đất tại địa chỉ 5 đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H là 2.809.000.000 đồng.
Chứng thư thẩm định giá số: 42A/10/20/CYTDG.APAK ngày 12 tháng 10 năm 2020 thì giá thực tế nhà đất số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H tại thời điểm thực hiện việc giao dịch chuyển nhượng ngày 13/11/2013 là 1.551.000.000 đồng.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/3/2023 đối với nhà và đất tại địa chỉ 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân T thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm tố tụng. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
5
nguyên đơn. Việc phản tố của bị đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H đã tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Kim D.
Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng sử dụng đất ở số: 25442/HĐ-MB CN ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N đối với nhà ở và đất ở tại địa chỉ 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H là vô hiệu.
Ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 phải giao lại cho bà Cao Kim D bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 03526/2003 do U, Thành phố H cấp ngày 23/10/2003 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Cao Kim D được quyền liên hệ với các cơ có thẩm quyền làm thủ tục hủy phần cập nhật tên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 được Chi nhánh Văn phòng Đ2 cập nhật biến động ngày 08/4/2016 trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 003526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 về việc yêu cầu bà Cao Kim D bàn giao cho ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 nhà ở và đất ở tại địa chỉ 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H theo Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBCN ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và Bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng.
Ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 phải chịu án phí số tiền là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0091540 ngày 04/5/2020 của Cục thi hành án dân sự Thành phố H. Ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 phải nộp thêm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngày 03/10/2023, ông Hoàng Văn N có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H.
Tại phiên tòa sơ thẩm phát sinh tình tiết mới đó là sự có mặt và lời khai của 02 người làm chứng đã được phòng công chứng chứng thực và tại phiên tòa, người làm chứng đều cam kết chịu trách nhiệm trược pháp luật đối với lời khai của họ về
6
việc biết sự việc nguyên đơn bà Cao Kim D đã rao và treo biển bán nhà, họ là người môi giới và đã đưa một số khách đến xem nhà trước thời điểm bà D bán nhà cho bị đơn, nhưng trong bản án của tòa sơ thẩm chưa ghi nhận cụ thể người làm chứng khai những gì và mối liên hệ giữa lời khai của người làm chứng với lời khai khác và các chứng cứ khác trong vụ án. Mà bản án chỉ nêu chung chung là người làm chứng không đưa ra được căn cứ chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ, nên hội đồng không chấp nhận.
Nội dung lời khai của nguyên đơn và đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ kiện có nhiều mâu thuẫn bất nhất, lời khai trong phiên tòa sơ thẩm ngày 11/9/2023 và ngày 15/9/2023 bà D khai không ký hợp đồng vay tiền và vay tiên của ông N, em trai của bà D là ông Cao Văn Đ1 vay chứ bà D không vay, bà cũng không nhận số tiền 600.000.000 đồng như trong hợp đồng còn ông Đ1 có nhận tiền vay hay không bà D không biết, lời khai này của bà D đã mâu thuẫn với những lời khai trước đó tại các phiên tòa sơ thẩm năm 2020 và phiên tòa phúc thẩm năm 2022.
Tại phiên tòa sơ thẩm năm 2020 chính bà Cao Kim D thừa nhận bị đơn ông Cao Hoàng N1 còn thiếu nguyên đơn 400.000.000 đồng đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 13/11/2013, nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bị đơn số tiền tương đương 40% giá trị chuyển nhượng mà bị đơn chưa thanh toán theo hợp đồng chuyển nhượng nêu trên.
Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 30/9/2020 thì nguyên đơn lại xác định chưa trả tiền gốc đối với số tiền vay theo hợp đồng. Nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn 600.000.000 đồng cùng với lãi suất theo quy định;
Nhưng tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 27/10/2020 bà D khai: Ngày 13/11/2013 tại Phòng C2 có ký 01 hợp đồng vay thêm 400.000.000 đồng không biết là đã trả 600.000.000 đồng hay chưa. Người đại diện của nguyên đơn đã trình bày do bị đơn không chứng minh được đã đưa cho nguyên đơn 400.000.000 đồng nên nguyên đơn đồng ý trả số tiền tương đương với 60% giá trị nhà đất, cụ thể bà D đồng ý trả cho ông N1 1.680.000.000 đồng. Nhận thấy Tòa cấp sơ thẩm không xem xét xét mối liên quan giữa các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án từ đó gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nên bị đơn yêu cầu hủy bản án để giải quyết lại vụ án.
Ngày 03/10/2023, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân T ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 07/QĐKN-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H. Cho rằng Tòa cấp sơ thẩm ra bản án có những vi phạm:
Về tố tụng: Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khi tại phiên tòa phát sinh tình tiết mới là sự có mặt của hai người làm chứng nhưng trong bản án chưa ghi nhận hết tất cả lời khai của người làm chứng, không xem xét
7
đánh giá mối liên quan giữa lời khai của người làm chứng với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án và không chấp nhận lời khai của người làm chứng là chưa chính xác chưa đảm bảo quy định của pháp luật về đánh giá chứng cứ khách quan và toàn diện.
Về nội dung: Trong hồ sơ vụ án thể hiện có 03 hợp đồng được ký kết và được chứng thực tại Phòng C3 theo thứ tự: Hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản có trước, tiếp theo là hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản, sau cùng là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số E liên tỉnh 5, phường F, Quận H. Khi ký hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản thì hợp đồng này đã hết hiệu lực. Nếu cho rằng hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là giả tạo. Vậy hợp đồng chuyển nhượng này nhằm che giấu hợp đồng nào theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2005. Phòng C2 đã xác nhận thủ tục công chứng chứng thực các hợp đồng này đúng trình tự thủ tục. Do vậy nguyên đơn không thể nói là không biết gì vì giữa hai chị em nguyên đơn và bị đơn đã ký với nhau 03 hợp đồng tại Phòng công chứng chứ không phải là ký hợp đồng tay giữa các bên nên không thể cho rằng nguyên đơn bị ép buộc hay lừa dối như nguyên đơn đã trình bày trong đơn khởi kiện.
Mặt khác, trong đơn khởi kiện chính nguyên đơn xác nhận: bị đơn yêu cầu giao nhà ngày 25/5/2018, bị đơn khai ngoài lần đó còn nhiều lần trước nữa, nhưng trong Bản dân sự sơ thẩm số: 300/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 đã nhận định “Khi ông N1 và bà Thái Thị D1 có đơn phản tố yêu cầu bà Cao kim D2 giao nhà ngày 12/4/2020 thì thời điểm này vụ án đang được giải quyết tranh chấp tại Tòa án”. Nội dung nhận định này là chưa phản ánh đầy đủ hết tất cả các mốc thời gian bị đơn đòi nguyên đơn giao nhà, mâu thuẫn nội dung trình bày trong đơn khởi kiện ngày 28/6/2018.
Xét thấy lời khai của phía nguyên đơn luôn mâu thuẫn khi thì khai thừa nhận có ký hợp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng đất, khi thì khai không ký, khi thì lại khai có hợp đồng khác nhưng không chứng minh được, nhưng trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn có ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, chứng cứ trong hồ sơ phù hợp với lời khai của bị đơn và hai người làm chứng, phù hợp với một số lời khai của chính nguyên đơn trong các biên bản phiên tòa và diễn biến tại các phiên tòa. Lời khai của người làm chứng tại phiên tòa sơ thẩm năm 2023 nhưng trong bản án lại không được ghi nhận và đánh giá đầy đủ toàn diện đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía bị đơn ông N1 có đơn xin xác định lại yêu cầu phản tố cụ thể: Xin rút lại yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin rút lại yêu cầu hỗ trợ nguyên đơn 70.000.000 đồng. Đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu
8
phản tố của đơn bị đơn trả số tiền tương đương 40% giá trị căn nhà cho bà D2 và buộc bà D2 phải giao nhà cho bị đơn vì:
Ông N1 xác định đối với số tiền mà vợ chồng ông N1 đã trả được 600.000.000 đồng, bằng chính số tiền trước đây đã cho bà Cao kim D2 vay, do việc hai bên thỏa thuận mua bán nhà, bà Cao kim D2 bán nhà cho ông N1 để trả nợ cho ông N1, cho nên số tiền 600.000.000 đồng được cấn trừ vào việc mua bán nhà sau khi hai bên làm hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền, sau đó hai bên ký hợp đồng mua bán nhà, việc mua bán nhà là sự thật không che giấu giao dịch vay nợ vì tại thời điểm ký hợp đồng thanh lý các bên đã xác nhận không còn nợ số tiền nợ này, bị đơn đã trừ vào tiền mua nhà của nguyên đơn nên chỉ còn lại 400.000.000 đồng. Việc người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Kim D2 khai bà Cao Kim D không nhận 600.000.000 đồng tiền vay là không đúng sự thật. Việc các bên thỏa thuận ký hợp đồng mua bán nhà hoàn toàn đúng sự thật và không bị ép buộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố H rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 07/QĐKN-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân T đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H.
Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân T, Thành phố H còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo qui định tại Điều 273, Điều 276, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
9
Xét thấy, tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H đã rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 07/QĐKN-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân T nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với quyết định kháng nghị nêu trên.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cho rằng cấp phúc thẩm có những vi phạm về tố tụng và tuyên bản án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nên đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn buộc bị đơn trả 40% giá trị nhà còn lại cho nguyên đơn, buộc nguyên đơn phải giao trả nhà cho bị đơn ngay khi bị đơn giao tiền.
[2.1] Xét thấy, tại phiên tòa:
Phía bị đơn có đơn xin xác định lại yêu cầu phản tố cụ thể: Xin rút lại yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin rút lại yêu cầu hỗ trợ nguyên đơn 70.000.000 đồng. Hội đồng chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu xin rút lại này của ông N1.
[2.2.] Nhận thấy, Tòa cấp sơ thẩm nhận định và cho rằng lời khai 02 người làm chứng chưa có cơ sở để xác định là chứng cứ bởi ngoài lời khai của họ thì họ không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ và hợp pháp trong khi phía bà Cao Kim D lại phủ nhận lời khai của họ. Xét thấy nhận định này của cấp sơ thẩm là có căn cứ, nên không chấp nhận đối với phần kháng cáo này của bị đơn.
[2.3] Nhận thấy, theo nội dung đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc bị đơn trả 40% giá trị nhà còn lại cho nguyên đơn, buộc nguyên đơn phải giao trả nhà cho bị đơn ngay khi bị đơn giao tiền vì bị đơn cho rằng Hợp đồng mua bán nhà là sự thật nên có hiệu lực không phải là giả tạo nhằm che giấu cho một giao dịch khác là chính xác và có căn cứ vì: Trong hồ sơ vụ án thể hiện có 03 hợp đồng được ký kết và được chứng thực tại Phòng C3 theo thứ tự: Hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản có trước, tiếp theo là hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản, sau cùng là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số E đường liên tỉnh 5, Phường F, Quận H
Căn cứ vào hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản ký ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1, hai bên thống nhất thanh lý Hợp đồng vay tiền ngày 01/4/2013 trước thời hạn 05 tháng theo thỏa thuận của của hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản thể hiện nội dung bà Cao kim D2 và ông Đ1 đã thanh toán hết khoản nợ vay cho ông
10
N. Như vậy, tại thời điểm này Hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản đã chấm dứt kể từ ngày 13/11/2013.
Căn cứ, Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HD-MBNCN giữa ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N ký ngày 13/11/2013 tại Phòng C2. Theo hợp đồng, hai bên thống nhất chuyển nhượng nhà ở và đất ở tại địa chỉ số E đường L, Phường F, Quận H, Thành phố C, giá trị chuyển nhượng là 01 tỷ đồng. Tại Điều 2 quy định về giá và phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận “giá trị căn nhà là 01 tỷ đồng bên B thanh toán một lần cho bên A bằng đồng Việt Nam, sau khi ký hợp đồng này”.
Tại Điều 3 quy định về giao nhận nhà, quyền sử dụng đất và các giấy tờ về nhà:
“Bên A giao và bên B nhận nhà và các giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng liên quan đúng như thực trạng và đã miêu tả trong hồ sơ nêu trên sau khi ký hợp đồng này. Trong thời hạn chưa giao nhà bên A có trách nhiệm bảo quản nhà.”
Tại Điều 5 quy định đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng:
Bên B có trách nhiệm làm thủ tục trước bạ và đăng ký, sang tên đối với căn nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên tại cơ quan có thẩm quyền.
......
Quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất nêu trên được chuyển cho bên B tại thời điểm theo quy định của pháp luật".
Như vậy, cho thấy việc giao nhận tiền và nhà giữa các bên không có xác định thời hạn cụ thể vì các bên chỉ thỏa thuận việc giao nhận “sau khi ký hợp đồng này” chứ không phải là “ngay sau khi ký hợp đồng này”. Nội dung này đã chứng minh cho đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện hợp đồng mua bán nhà vẫn còn hiệu lực, bởi từ sau khi ký hợp đồng đến nay giữa các bên không có văn bản nào thỏa thuận xác định thời hạn cụ thể giao nhận nhà và tiền. Nhận thấy, Tòa cấp sơ thẩm đã viện dẫn không chính xác nội dung của thỏa thuận giao nhận này giữa các bên dẫn đến nhận định không đúng với bản chất sự việc, từ đó đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HĐ-MBNCN và hủy phần cập nhật biến động là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bởi căn cứ vào khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 thì quyền sở hữu chuyển cho bên mua phát sinh từ thời điểm hợp đồng mua bán nhà được công chứng chứng thực.
[2.4] Xét thấy, việc Tòa cấp sơ thẩm nhận định khoản tiền 600.000.000 đồng mà bà Cao Kim D vay chưa trả sẽ được xem xét và giải quyết bằng một vụ kiện khác khi một hoặc các bên đương sự có yêu cầu là không đúng, vì cấp sơ thẩm nhận định đánh giá phiến diện chỉ căn cứ vào lời khai của đại diện nguyên đơn mà chưa xem xét đánh giá tất cả các tài liệu chứng cứ quan trọng do chính nguyên đơn
11
trực tiếp trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai của nguyên đơn trong các phiên tòa trước đây khi xét xử sơ thẩm lần đầu, để từ đó xác định số tiền này nguyên đơn đã trả cho bị đơn chưa hay cấn trừ sang số tiền mua bán nhà giữa các bên. Tại sao bị đơn cho rằng chỉ còn nợ 400.000.000 đồng tiền mua nhà chưa trả cho nguyên đơn. Tại sao nguyên đơn trình bày thanh lý ghi đã thanh toán đủ số tiền vay, chứng cứ trả nợ như thế nào? Tại sao đã thanh toán đủ nay lại tự xác nhận vẫn còn nợ 600.000.000 đồng và chấp nhận trả lại phát sinh trên số tiền này cho bị đơn. Và thời gian yêu cầu buộc nguyên đơn giao nhà bắt đầu từ thời điểm nào...v.v.
Xét thấy, tại đơn khởi kiện ngày 28/6/2018 nguyên đơn bà Cao Kim D2 trình bày: “...Hợp đồng vay tiền và thế chấp nhà với số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 01/4/2013... nhưng mới được 07 tháng, đến ngày 13/11/2013 ông Hoàng Văn N nói hợp đồng vay tiền hết hiệu lực, bắt tôi và ông Cao Văn Đ1 ra công chứng ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 03526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003 với số tiền 1.000.000.000 đồng, do không hiểu biết tôi đã ra công chứng ký tên nhưng sau khi ký hợp đồng mua bán tôi không nhận thêm một đồng nào vì ông N nói số tiền 400.000.000 đồng đáng lẽ phải đưa thêm cho tôi thì ông N giữ bảo để đóng lãi, khi nào trừ hết 400.000.000 đồng thì ông N lấy nhà. Vì tôi ngu dốt không hiểu biết nên không hủy hợp đồng mua bán nhà này trong khi nhà này tôi chỉ đứng tên đại diện... bị ông N lừa ký tên bán nhà và ông N còn nói giấy vay tiền hết hiệu lực nên tôi mới nghe lời.
Rồi ông N có đến nhà kêu tôi đi đóng thuế vì để lâu sẽ bị phạt. Tôi không nhận thêm tiền nên không đi đóng thuế trước bạ nhà đất.
Ngày 25/5/2018, ông N bắt tôi ra khỏi nhà giao lại nhà cho ông N, tôi có nói cho ông N cho tôi thêm một số tiền nhưng ông N từ chối với lý do tôi đã bán nhà.
Nay ông Đ1 đã chết, tôi không thể bán nhà cho ông N vì tôi chỉ có nhận 600.000.000 đồng, thời giá hiện nay nhà của tôi khoảng 2.500.000.000 đồng mà ông N không trả thêm tiền”
Nội dung này đã chứng minh bà D2 xác định việc ký hợp đồng mua bán nhà là tự nguyện không phải bị ép buộc và lừa dối bởi:
Thứ nhất: Hợp đồng vay tiền thể hiện thời hạn vay là 12 tháng, trong quá trình giải quyết hai bên đều xác nhận trả lãi đầy đủ hàng tháng. Do đó, bà Kim D, ông Đ1 không vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông N không thể ép buộc thanh lý hợp đồng trước hạn 05 tháng mà chỉ có thể ký hợp đồng thanh lý khi hai bên tự nguyện thỏa thuận với nhau.
Thứ hai: Chính lời khai “Vì tôi ngu dốt không hiểu biết nên không hủy hợp đồng mua bán nhà này trong khi nhà này tôi chỉ đứng tên đại diện... bị ông N lừa ký tên bán nhà và ông N còn nói giấy vay tiền hết hiệu lực nên tôi mới nghe lời.”
12
Đã chứng minh bà D hoàn toàn nhận thức và biết được bản thân bà ký hợp đồng trong tình trạng chị em bà không có khả năng trả nợ vì đã được ông N nói ngay tại thời điểm đó hợp đồng vay tiền hết hiệu lực, nhưng bà D vẫn không hủy hợp đồng mua bán nhà, việc bà D nại ra cho rằng không hiểu biết là không thể chấp nhận.
Thứ ba: Bà D khai ông N yêu cầu bà đi đóng thuế bà D không đi vì cho rằng không nhận thêm tiền nên không đi, bà D không thể bán nhà cho ông N vì bà chỉ có nhận 600.000.000 đồng trong khi giá nhà tại thời điểm khởi kiện là 2.500.000.000 đồng. Việc này chứng minh mục đích của bà D là bán nhà vì do ông N không giao số tiền 400.000.000 đồng còn lại nên bà D không đóng thuế và giá nhà tăng cao so với thời điểm ký hợp đồng mà ông N không trả thêm tiền.
Thứ tư: Bà D xác định ông N yêu cầu bà giao nhà vào ngày 25/5/2018 tức là trước khi bà D làm đơn khởi kiện (ngày 28/6/2018). Nhưng Tòa cấp sơ thẩm lại nhận định sau khi tòa thụ lý ông N mới có yêu cầu phản tố đòi nhà là không đúng.
Thứ năm: Trong phần kết đơn khởi kiện bà D trình bày: “Tôi sẽ trả cho ông N 600.000.000 đồng và tiền lãi những năm qua để tạo điều kiện cho tôi trả nợ và có tiền mua nhà khác để ở”.
Nội dung này một lần nữa chứng minh bà D và (ông Đ1 khi còn sống) không có tài sản nào khác ngoài căn nhà này là tài sản duy nhất để thế chấp vay số tiền của ông N và ngay từ khi vay đã xác định không thể trả nợ thì chính căn nhà này sẽ là tài sản phải chấp nhận phát mại để trả nợ, chính vì không có khả năng duy trì khoản nợ này mà hai bên mới ký hợp đồng thanh lý hợp đồng vay và thế chấp tài sản trước thời hạn. Trên cơ sở này các bên đã ký hợp đồng mua bán và giữa hai bên mặc dù không ký và giao nhận số tiền trả nợ 600.000.000 đồng nhưng các bên đều xác định đã trả xong. Từ những phân tích trên cho thấy chính số tiền 600.000.000 đồng này đã được các bên cấn trừ sang số tiền mua bán nhà mà bị đơn phải trả cho bên nguyên đơn là sự thật.
Cũng từ phân tích nêu trên cho thấy cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn để từ đó nhận định số tiền 600.000.0000 đồng là tiền nguyên đơn vay chưa trả mà không xác định được đây chính là khoản tiền mua nhà mà nguyên đơn đã cấn trừ từ khoản nợ thanh toán sang thành khoản tiền mua bán nhà là không đúng bản chất của các giao dịch nêu trên.
[2.5]. Xét thấy, việc bà Kim D thừa nhận ông N, bà Thái Thị D1 chưa giao số tiền 400.000.000 đồng đã chứng minh cho việc bà Cao Kim D và ông Đ1 đã nhận 600.000.000 đồng nhưng nay bà D nại ra cho rằng vẫn còn nợ 600.000.000 đồng và đề nghị tuyên vô hiệu trả lại số tiền vay là không có cơ sở chấp nhận, bởi như đã phân tích nêu trên thì hợp đồng vay tiền đã được các bên thỏa thuận chấm dứt trước thời hạn, thể hiện trên Hợp đồng thanh lý như đã phân tích tại mục [2.2] ở trên. Xét việc ông N xác định đối với số tiền mà ông N đã trả được 600.000.000 đồng, bằng
13
chính số tiền trước đây đã cho bà Cao kim D2 vay, khi các bên ký hợp đồng thanh lý hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản ngày 13/11/2013. Số tiền vay 600.000.000 đồng này các bên đã mặc nhiên thừa nhận chuyển thành khoản tiền mua bán nhà mà ông N đã trả cho bà Cao Kim D và ông Đ1 vì chính các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thanh lý là đã trả “hết số nợ trên”. Từ những phân tích nêu trên hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để xác định hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HĐ-MBNCN ký ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N trên cơ sở tự nguyện đã được công chứng chứng thực và ông N đã đăng ký biến động sang tên mình. Do hợp đồng mua bán nhà ký ngày 13/11/2013 vẫn còn hiệu lực nên các bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Do ông N chưa thanh toán số tiền 400.000.000 đồng còn lại nên bà Kim D chưa giao nhà là đúng, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Kim D thì ông N phải trả cho bà Kim D số tiền mua bán nhà tương ứng với số tiền còn thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số: 42/08/20/CYTĐG.APAK ngày 14 tháng 8 năm 2020 thì giá nhà đất tại địa chỉ 5 đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H là 2.809.000.000 đồng. Như vậy ông N còn phải thanh toán cho bà Cao Kim D 40% giá trị căn nhà theo giá hiện tại là 1.112.360.000 đồng.
Phía bà Cao Kim D phải giao lại căn nhà đất số E đường L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H cho ông N ngay khi ông N giao số tiền trên cho bà Cao kim D2.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn sửa bản án dân sự theo hướng phân tích nêu trên.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên cần phải sửa lại án phí dân sự cho phù hợp.
Cụ thể do yêu cầu của nguyên không được chấp nhận nên phải chịu án phí nhưng do nguyên đơn là người cao tuổi nên không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi.
Ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là 45.370.800 đồng.
Hoàn trả ông Hoàng Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0091540 ngày 04/5/2020 của Cục thi hành án dân sự Thành phố H.
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
14
H lại ông N số tiềm tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: AA/2023/0036181 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sưn T lập
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 298, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật người cao tuổi; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Đình chỉ Quyết định kháng nghị phúc thẩm của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân T, Thành phố H.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Văn N.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân T, Thành phố H.
Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin rút lại yêu cầu hỗ trợ nguyên đơn 70.000.000 đồng do bị đơn xin rút lại một phần yêu cầu.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Kim D về việc yêu cầu tòa tuyên
Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng sử dụng đất ở số: 25442/HĐ-MB CN ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N đối với nhà ở và đất ở tại địa chỉ 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H là vô hiệu.
Ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 phải giao lại cho bà Cao Kim D bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 03526/2003 do U, Thành phố H cấp ngày 23/10/2003 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Cao Kim D được quyền liên hệ với các cơ có thẩm quyền làm thủ tục hủy phần cập nhật tên ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1 được Chi nhánh Văn phòng Đ2 cập nhật biến động ngày 08/4/2016 trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 003526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Văn N và bà Thái Thị D1.
15
Buộc ông Hoàng Văn N phải trả cho bà Cao Kim D số tiền mua bán nhà còn thiếu là 1.112.360.000 đồng (Một tỷ, một trăm mười hai triệu, ba trăm sáu mươi ngàn đồng).
Buộc bà Cao Kim D giao cho ông Hoàng Văn N nhà ở và đất ở tại địa chỉ 5 L tỉnh 5, Phường F, Quận H, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 003526/2003 do U cấp ngày 23/10/2003 và theo Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 25442/HĐ-MBCN ngày 13/11/2013 giữa ông Cao Văn Đ1 và Bà Cao Kim D với ông Hoàng Văn N.
Việc giao nhận tiền và giao nhận nhà được thực hiện đồng thời cùng lúc giữa hai bên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bà Cao Kim D không giao căn nhà trên thì ông N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành thi hành án theo quy định của pháp luật.
3.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Cao Kim D được miễn án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi.
Ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là 45.370.800 đồng (bốn mươi lăm triệu, ba trăm bảy mươi nghìn, tám trăm đồng).
Hoàn trả ông Hoàng Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0091540 ngày 04/5/2020 của Cục thi hành án dân sự Thành phố H.
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Hoàng Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
H lại ông N số tiềm tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: AA/2023/0036181 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sưn T lập
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
16
hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |
Bản án số 345/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
- Số bản án: 345/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ Quyết định kháng nghị phúc thẩm của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Sửa Bản án dân sự sơ thẩm: Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn
