Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 345/2023/HS-ST

Ngày 21-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo.

Ông Hồ Sĩ Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim T - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 361/2023/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn N, sinh năm 2004 tại tỉnh Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 3 B, phường N, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Phạm Văn L, sinh năm 1965; Mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt: Ngày 20 tháng 6 năm 2023 (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 2000 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: 317 đường C, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: C T, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Mạnh T2, sinh năm: 1979; Mẹ: Nguyễn Thị Thanh V1, sinh năm:1979; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt: Ngày 20 tháng 6 năm 2023 (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 20/06/2023, tại trước Chung cư G địa chỉ A H, phường B, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an T4 phối hợp với Công an phường B1, TP V bắt quả tang Nguyễn Mạnh T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán cho con nghiện đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T1 tại C T, Phường E, TP V, thu giữ thêm 01 gói nylon bên trong có chứa chất rắn màu trắng; 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa 05 viên nén màu cam và 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa một viên nén hình lục giác màu xám (T1 khai nhận là ma túy).

Qua điều tra ban đầu, T1 khai nhận số ma túy bị thu giữ là của đối tượng tên “Bơ” đưa T1 đi bán cho con nghiện. Cơ quan điều tra tiến hành cho T1 nhận dạng, qua đó xác định đối tượng tên “Bơ” là Phạm Văn N (SN: 2004; HKTT: xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: 3 B, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn N.

Quá trình điều tra, Phạm Văn N và Nguyễn Mạnh T1 khai nhận: Cả hai quen biết nhau từ trước và thường xuyên sử dụng ma túy với nhau. Do không có việc làm ổn định nên T1 đã đi bán ma túy cho N (tên thường gọi là B) nhằm mục đích kiếm lời và tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 20 giờ ngày 19/6/2023, N gọi T1 qua ứng dụng “Messenger” nói đến nhà lấy ma túy gồm 10 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy Khay và dặn có khách cần mua thì N sẽ gọi T1 mang đi bán, T1 đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe máy BKS 81H2-7829 chạy đến hẻm C B, phường N, TP V gặp N để lấy số ma túy trên và mang về nhà mình cất giấu.

Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 19/06/2023, khi N đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số “0325256149” hỏi mua nửa hộp ma túy Khay và 05 viên ma túy dạng thuốc lắc, N đồng ý bán với giá 4.300.000 đồng (ma túy khay là 2.800.000 đồng và năm viên thuốc lắc là 1.500.000 đồng) và hẹn giao ma túy tại chung cư G địa chỉ A H, phường B, TP V. Sau đó, N gọi cho T1 qua ứng dụng “Messenger" nói lấy số lượng ma túy như trên đi giao cho khách tại địa điểm đã hẹn và lấy số tiền 4.300.000 đồng của người mua đem về cho N. Một lúc sau, T1 mang ma túy đi đến địa điểm trên đợi khách thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Ngoài ra, N khai nhận số ma túy bị thu giữ là của một đối tượng tên S (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi bán được ma túy, T1 sẽ hưởng lợi 375.000 đồng, N là 500.000 đồng, số tiền còn lại 3.425.000 đồng N sẽ trả cho S. Trước khi bị bắt như trên, T1 đã 02 lần bán ma túy cùng N và thu lợi nhuận bất chính là 200.000 đồng. Còn N đã mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần và không nhớ rõ số tiền thu lợi bất chính.

Lời khai của Phạm Văn N, Nguyễn Mạnh T1 phù hợp với nhau, phù hợp với chứng cứ thu thập được và lời khai của người chứng kiến.

Tại Bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS-MT ngày 28/06/2023 Phòng K Công an tỉnh T4 kết quả như sau:

  • - Mẫu (A1) 01 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng, gửi giám định có khối lượng 1,7203 gam, đây là ma túy, loại Ketamine;
  • - Mẫu (A2) 05 viên nén màu cam, gửi giám định có khối lượng 2,4384 gam, đây là ma túy, loại MDMA.

Tại Bản kết luận giám định số 309/KL-KTHS-MT ngày 27/06/2023 của Phòng K Công an tỉnh T4 đối với vật chứng thu giữ khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh T1 tại C T, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, kết quả như sau:

  • - Mẫu (A1) 01 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng, gửi giám định có khối lượng 10,6827 gam, đây là ma túy, loại Ketamine;
  • - Mẫu (A2) 05 viên nén màu cam, gửi giám định có khối lượng 2,4403 gam, đây là ma túy, loại MDMA;
  • - Mẫu (A3) 01 viên nén màu xám, gửi giám định có khối lượng 0,4014 gam, đây là ma túy, loại MDMA.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng và tài sản gồm:

  • - 02 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng, qua giám định có tổng khối lượng 12,403 gam ma túy, loại Ketamine;
  • - 10 viên nén màu cam, qua giám định có tổng khối lượng 4,8787 gam ma túy, loại MDMA;
  • - 01 viên nén màu xám, qua giám định có khối lượng 0,4014 gam ma túy, loại MDMA;
  • - 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số Imel: 860993057570454;
  • - 01 xe máy hiệu Lisohaka màu đỏ BKS 81H2-7829, số máy: FMG2000065765, số khung: 012LK065765;
  • - 01 ĐTDĐ hiệu Iphone có số IMEI: 356694081076325;

Tất cả số vật chứng và tài sản trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 384/CT-VKSTPVT ngày 17/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Mạnh T1 và Phạm Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Phạm Văn N, mỗi bị cáo mức án từ 08 đến 09 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe máy hiệu Lisohaka màu đỏ BKS 81H2-7829, số máy: FMG2000065765, số khung: 012LK065765 của bị cáo N; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone có số IMEI: 356694081076325 của bị cáo N; 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số Imel: 860993057570454 của bị cáo T1.
  • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng của T1 để sung công quỹ Nhà nước.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

    Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 20/06/2023, tại trước Chung cư G địa chỉ A H, phường B, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an T4 phối hợp với Công an phường B1, TP V bắt quả tang Nguyễn Mạnh T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,7203 gam ma túy, loại Ketamine và 2,4384 gam chất ma túy, loại MDMA nhằm mục đích bán cho con nghiện. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T1 thu giữ thêm 10,6827 gam ma túy, loại Ketamine và 2,8417 gam ma túy, loại MDMA. Tổng số ma túy bị thu giữ gồm: 12,4030 gam ma túy Ketamine và 5,2801 gam ma túy loại MDMA là của Phạm Văn N đưa cho T1 nhằm mục đích bán cho con nghiện kiếm lời. Ngoài lần bị bắt quả tang, trước đó T1 đã đi bán ma túy theo sự chỉ dẫn của N 2 lần, còn N đã bán nhiều lần nhưng không nhớ thời gian, địa điểm và số tiền bán cụ thể.

    Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, p, Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

  3. [3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

    Xét thấy, trong vụ án các bị cáo thực hiện cùng nhau có tính chất đồng phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể nên hành vi của các bị cáo thực hiện không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn.

    Trong hai bị cáo thì bị cáo N là người khởi xướng, chủ mưu đưa ma túy cho bị cáo T1 đi bán, còn bị cáo T1 là người thực hành tích cực, trực tiếp mang ma túy đi bán cho người mua nên bị cáo N phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tình tiết tăng nặng: Không có.

    Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

  5. [5] Về xử lý vật chứng:
    • - Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 02 gói niêm phong số 297/GĐMT ngày 28/6/2023 và số 309/GĐMT ngày 27/6/2023 của Phòng K công an tỉnh T4) là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
    • - 01 xe máy hiệu Lisohaka màu đỏ BKS 81H2-7829, số máy: FMG2000065765, số khung: 012LK065765 và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone có số IMEI: 356694081076325 của bị cáo N; 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số Imel: 860993057570454 của bị cáo T1, các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
    • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng của T1 để sung công quỹ Nhà nước.
  6. [6] Đối với người gọi hỏi mua ma túy của N và người tên S đã bán ma túy cho N do không rõ nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
  7. [7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Tuyên bố: Các bị cáo: Phạm Văn N, Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. 2.

    - Căn cứ điểm b, p Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Văn N: 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2023.

    - Căn cứ b, p Khoản 2 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Mạnh T1: 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2023.

  3. 3. Về xử lý vật chứng Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 02 gói niêm phong số 297/GĐMT ngày 28/6/2023 và số 309/GĐMT ngày 27/6/2023 của Phòng K công an tỉnh T4).
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe máy hiệu Lisohaka màu đỏ BKS 81H2-7829, số máy: FMG2000065765, số khung: 012LK065765 và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone có số IMEI: 356694081076325 của bị cáo N; 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số Imel: 860993057570454 của bị cáo T1;
    • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng của T1 để sung công quỹ Nhà nước.

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 70 /BB-CCTHADS ngày 21/12/2023.

  4. 4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn NNguyễn Mạnh T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. 5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC 10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 345/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 345/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Ngọc - Nguyễn Mạnh Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger