Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 345/2024/HS-ST

Ngày: 12 – 12 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Võ Thị Thu Thuỷ

Bà Lê Thị Kim Ngân

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 349/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 415/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm: 1997 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Số C, tổ A, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Phòng trọ số C, nhà trọ Nguyễn Thị T1, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Văn S và bà Châu Thị Ngọc B; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị hại: Bà Đỗ Thanh N sinh năm: 1998; nơi thường trú: Số A, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Huỳnh Trọng Â, ông Nguyễn Gia B1, ông Chí T2, bà Trương Thị Bích H, ông Hoàng Trọng V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T và bà Đỗ Thanh N có quan hệ tình cảm yêu thương và đã nhiều lần quan hệ tình dục tại phòng trọ của T tại khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. T sử dụng điện thoại di động quay video ghi lại hình ảnh lúc giữa T và bà N đang quan hệ tình dục để làm kỷ niệm. Đến ngày 22/6/2024, bà N và T xảy ra mâu thuẫn nên bà N đề nghị T chấp dứt tình cảm, chia tay nhau nhưng T không đồng ý. Bà N xóa kết bạn trên ứng dụng Zalo và Facebook với T. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 24/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 66N1-456.99 đến nhà trọ của bà N tại số A, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để gặp bà N nói chuyện nhưng bà N không mở cửa, T nhắn tin bà N không trả lời, bực tức T chửi bới, đe dọa đăng video quan hệ tình dục giữa T và bà N cho những người bạn của bà N nhằm xúc phạm, làm nhục bà N. Đến ngày 28/6/2024, T sử dụng 01 điện thoại di động đăng nhập vào ứng dụng Messeger của F; Zalo của mình mang tên “T báo”, “Giao Bảo” gửi video quan hệ tình dục giữa T và bà N có thời lượng 03 phút 26 giây đến những người quen của bà N gồm ông Huỳnh Trọng Â, ông Nguyễn Gia B1, ông Chí T2 nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà N.

Đến khoảng 00 giờ 37 phút ngày 29/6/2024, T tiếp tục thông qua Facebook của T có tài khoản “T báo” gửi video nội dung quan hệ tình dục giữa T và bà N có thời lượng 03 phút 26 giây cho ông Hoàng Trọng V là bạn làm chung Công ty I với bà N biết nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà N. Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/6/2024, T mang theo 01 con dao bằng kim loại 20cm rồi điều khiển xe mô tô biển số 66N1-456.99 chạy đến nhà trọ của bà N đứng ngoài cổng, gọi điện thoại cho bà N có lời nói qua lại và thách thức nhau, T dùng dao đâm vào cửa cổng đe dọa rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Đến khoảng 23 giờ 47 phút cùng ngày, T tiếp tục thông qua Facebook tài khoản “Gia Bảo” gửi video nội dung quan hệ tình dục giữa T và bà N có thời lượng 03 phút 26 giây cho bà Trương Thị Bích H là bạn làm chung Công ty với bà N biết nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà N.

Ngày 30/6/2024, bà Đỗ Thanh N biết được Lê Văn T đã gửi những video quan hệ tình dục giữa T và bà N cho những người bạn quen trên biết nên bà N đến Công an phường A trình báo sự việc trên. Cùng ngày, Lê Văn T đến Công an phường A để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 316/CT-VKS-TA ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Làm nhục người khác” theo quy điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh của Lê Văn T.

- Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Tại yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo xác định thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời khai trong quá trình điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi đã gây ra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm tái hoà nhập xã hội.

- Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Thống nhất với tội danh Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo; về hình phạt đối với bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy đình của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị cáo, bị hại đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Lời khai của bị cáo Lê Văn T tại Cơ quan Điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 28/6/2024 đến ngày 29/6/2024, tại khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Văn T sử dụng điện thoại di động là phương tiện điện tử và thông qua mạng xã hội để gửi video có nội dụng quan hệ tình dục giữa bị cáo và bà Đỗ Thanh N với thời lượng 03 phút 26 giây cho ông Huỳnh Trọng Â, ông Nguyễn G, ông Chí T2, ông Hoàng Trọng V, bà Trương Thị Bích H biết nhằm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà N.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” theo quy điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ đê hèn, bị cáo nhiều lần sử dụng phương tiện điện tử là điện thoại di động, mạng viễn thông rồi phát tán video chứa nội dung nhạy cảm thuộc thông tin cá nhân, bí mật đời tư của bị hại cho nhiều người khác. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của bị hại, ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, đời sống của bị hại, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mục đích gửi video để làm cho bị hại thấy xấu hổ và để những người đàn ông khác không muốn yêu thương bị hại, từ đó bị hại sẽ không chia tay với bị cáo. Cho thấy hành vi của bị cáo có tính chất đê hèn, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm đ khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh của Lê Văn T sử dụng làm công cụ phạm tội, cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với hành vi cất giấu 01 (một) con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ màu đen đem theo khi tìm gặp bị hại, khi tức giận đã đâm vào cổng nhà trọ của bị hại nhưng không gây thương tích rồi rời khỏi hiện trường. Hành vi của bị cáo T chưa cấu thành tội Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi cất dấu vũ khí trong người nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/CP ngày 31/12/2021.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm a, e khoản 2 Điều 155; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm đ khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Các Điều 106, 136; Điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Làm nhục người khác”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, số sê ri R58T105RHCY (đã niêm phong bên trong bì thư có biên bản niêm phong gửi kèm theo).

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 345/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về làm nhục người khác

  • Số bản án: 345/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đăng video cá nhân lên mạng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger