Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 345/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền và bà Nguyễn Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa công khai ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 289/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/3/1982. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố G, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Số A, hẻm D, ngách A, ngõ B, đường V, tổ dân phố G, phường V, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị T2. Có vợ là Nguyễn Tâm N và 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019). Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 166/HSST ngày 28/11/2005 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP . xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (đã xoá án tích).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  2. Vũ Ngọc V, sinh ngày 24/9/1990. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Phòng 506, số D, X, phường X, quận B, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Vũ Văn X và bà Trần Thị H. Có vợ là Hoàng Thị H1 và 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Tiến T3, sinh ngày 30/7/1982. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Số nhà A N, tổ A, phường L, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Phạm Thị Kim D. Có vợ là Nguyễn Thị H2 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2013). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  4. Đỗ Văn C, sinh ngày 07/6/1989. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị V1. Có vợ là Phạm Thị Kim D và 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Anh D1, sinh ngày 22/02/1984. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường M, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Trần Công H3 và bà Nguyễn Thị Y. Có vợ là Phạm Thị X1 và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  6. Nguyễn Văn T5, sinh ngày 16/7/1986. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường H, quận H, Hà Nội. Nơi ở hiện tại: P, nhà G, Đền L, phường H, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Văn T6 (Nguyễn Xuân T7) và bà Nguyễn Thị C1. Có vợ là Lã Thu T8 và 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  7. Đỗ Tuấn A, sinh ngày 18/10/1976. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Số B, ngõ B, đường X, tổ dân phố T, phường X, quận B, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Đỗ Hữu V2 và bà Nguyễn Thị Ngọc T9. Có vợ Nguyễn Thị N1 và 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  8. Nguyễn Hữu B, sinh ngày 25/9/1967. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Số A, ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 10/10. Con ông Nguyễn Hữu S (đã chết) và bà Trần Thị A1 (đã chết). Có vợ là Nguyễn Thanh H4 và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2002). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  9. Quách Đức S1, sinh ngày 18/5/1980. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Thôn P, cụm F, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Thôn P, cụm F, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Quách Đức M và bà Nguyễn Thị S2. Có vợ là Phạm Thị Đ và 03 con, (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016). Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 21/8/2024, tại phòng 105 thuộc tầng 1, Chung cư S, số A C, phường Y, quận H, Hà Nội, tổ công tác Công an quận H phát hiện bắt quả tang 2 chiếu bạc đang chơi sát phạt nhau bằng tiền.

Chiếu bạc thứ nhất đánh liêng có Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Văn T5, Quách Đức S1; số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 14.660.000 đồng, trong đó: Thu giữ tại chiếu 60.000 đồng tiền gà.

Chiếu bạc thứ hai đánh chắn có Nguyễn Anh D1, Nguyễn Thanh T, Đỗ Tuấn A và Nguyễn Hữu B; số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.460.000 đồng.

Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận: Các bị cáo đều là nhân viên lái xe cho Công ty cổ phần Đ1, có trụ sở tại Chung cư S, số A C, phường Y, quận H, Hà Nội. Khoảng 09 giờ ngày 21/8/2024 các bị cáo cùng có mặt tại phòng 105 thuộc tầng 1, Chung cư S - là phòng nghỉ của các nhân viên lái xe. Do chưa được gọi đi lái xe, nên cả nhóm cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng và đánh chắn trên 02 chiếu bạc.

Chiếu bạc đánh liêng có: Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Văn T5, Quách Đức S1 tự lấy 01 bộ tú lơ khơ (có sẵn tại đây) có 52 lá bài, gồm các lá chữ, số: “A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q và K”. Bộ bài được chia làm 04 “chất” gồm: “cơ”, “rô”, “tép” và “bích” có sẵn tại phòng nghỉ để sử dụng chơi, và có quy ước mỗi người chơi phải bỏ ra số tiền 10.000 đồng là tiền “gà” trước khi bắt đầu chơi. Trong mỗi ván, mỗi người chơi được chia 03 lá bài và có thể có các lựa chọn như sau: “Úp bài” nếu người chơi thấy bài của mình có điểm thấp không thể thắng được người khác, người chơi sẽ bị mất đi số tiền đặt gà ban đầu và kết thúc ván bài đó; nếu “Theo” người chơi thấy bài của mình có điểm bằng người ở cửa trên (người ở phía trước theo vòng) đặt, người chơi sẽ đặt tiền cược bằng số tiền của người ở cửa trên đặt. “Tố” nếu người chơi thấy bài của mình có điểm cao hơn những người ở cửa trên đặt, người chơi sẽ đặt tiền cược cao hơn số tiền của người ở cửa trên đặt, số tiền tố từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng/lượt và không giới hạn số vòng tố. Sau khi những người chơi đặt xong tiền cược, không còn ai “theo” hoặc “tố” thì những người chơi sẽ mở bài để so sánh điểm với nhau, người nào có bài mang giá trị cao nhất là người thắng cuộc. Điểm của các bộ bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé (“sáp”>“liêng”>“ảnh”) như sau: “Sáp” là bộ ba lá bài có chữ, số giống nhau (nếu những người chơi cùng được “sáp” so sánh giá trị chữ, số theo thứ tự từ lớn đến bé là A>K>Q>J>...>2). “Liêng” là bộ ba lá bài liên tiếp nhau (nếu những người chơi cùng được “liêng” sẽ so sánh giá trị chữ, số như đối với “sáp”, nếu cùng giá trị “loại” thì so sánh “chất” theo thứ tự từ lớn đến bé là “rô”>“cơ”>“tép”>“bích”). “Ảnh” là bộ ba lá bài đều là loại bài “đầu người” gồm các lá “J, Q, K”. Nếu không thuộc các trường hợp nêu trên thì cộng điểm của 03 lá bài rồi lấy số của hàng đơn vị để so sánh với nhau (trong đó quy ước lá “A” = 01 điểm, lá bài “10, J, Q, K” đều = 0 điểm, các lá bài còn lại có số điểm tương ứng với số trên bài).

Số tiền để đánh bạc dưới hình thức đánh liêng khi bị bắt thu giữ là 14.660.000 đồng. Cụ thể: V đã sử dụng số tiền 4.800.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 4.900.000 đồng (V đang thắng số tiền 100.000 đồng); T3 sử dụng số tiền 3.600.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 3.660.000 đồng (T3 đang thắng số tiền 60.000 đồng); C đã sử dụng số tiền 2.600.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 2.780.000 đồng (C đang thắng số tiền 180.000 đồng); T5 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 2.160.000 đồng (T5 đang thua số tiền 340.000 đồng); S1 sử dụng số tiền 1.160.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 1.100.000 đồng (S1 đang thua số tiền 60.000 đồng). Thu giữ tại chiếu 60.000 đồng tiền gà.

Tại chiếu đánh chắn, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Thanh T, Đỗ Tuấn A và Nguyễn Hữu B tự lấy 01 bộ bài chắn (có sẵn tại phòng nghỉ) có 100 lá bài, gồm các hàng là “vạn”, “văn”, “sách”; các lá từ “nhị” đến “cửu” và 04 lá “chỉ” để sử dụng chơi, và có quy ước Hai lá giống nhau gọi là “chắn”, hai lá cùng loại gọi là “cạ”. Trong mỗi ván, mỗi người chơi được chia 19 lá bài, riêng người cầm “cái” được chia 20 lá bài và đánh đầu tiên theo chiều từ phải qua trái, phần bài còn lại đặt vào giữa là “nọc” dùng để bốc khi người chơi không “ăn” lá bài của người liền trước. Người đầu tiên đánh 01 lá bài xuống chiếu; người chơi tiếp theo có thể “ăn” lá bài này hoặc nếu không “ăn” lá bài này thì bốc 01 lá bài mới từ “nọc”, sau đó đánh tiếp 01 lá bài của mình. Cứ thế tiếp diễn đến khi có người “ù” hoặc đã bốc hết “nọc” mà không có người “ù” thì ván bài kết thúc. Người có bài gồm 05 “chắn” và 04 “cạ” mà bốc lá “nọc” đúng cây đang chờ thì gọi là “ù bạch thủ”, người có bài gồm 06 “chắn” và 03 “cạ” mà bốc lá “nọc” đúng cây cùng loại gọi là “ù rộng”. Tỷ lệ cá cược được quy định: Mức “ù xuông” là 20.000 đồng và “dịch” là 10.000 đồng (nghĩa là nếu “ù” không có “cước” thì những người chơi còn lại phải trả cho người “ù” số tiền 20.000 đồng, nếu “ù” thêm 01 “cước” sẽ được tính là thêm 01 “dịch” thì sẽ được thêm số tiền 10.000 đồng/”dịch”). Người chơi có thể có các “cước” như sau: “ù chì” (“ù” tại “cửa chì” của mình) và “ù thông” (ván liền trước đã “ù” hoặc đã “treo tranh”) được số tiền 30.000 đồng; “ù tôm” (trên bài có 03 bộ tam bao: “tam vạn”, “tam sách”, “thất văn” được gọi là “tôm”) được số tiền 40.000 đồng; “ù lèo” (trên bài có “cửu vạn”, “bát sách”, “chi chì” được gọi là “lèo”; tối đa có 04 “lèo”) và “ù chì bạch thủ” được số tiền 50.000 đồng; “ù bạch định” (tất cả bài “ù” đều là lá bài màu đen) được số tiền 60.000 đồng; “ù tám đỏ” (bài “ù” có 08 lá bài màu đỏ”) được số tiền 70.000 đồng.

Các đối tượng thừa nhận đã sử dụng số tiền 8.460.000 đồng để đánh bạc dưới hình thức đánh chắn. Cụ thể: D1 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 2.800.000 đồng (D1 đang thắng số tiền 300.000 đồng); T sử dụng số tiền 2.400.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 2.590.000 đồng (T thắng số tiền 190.000 đồng); Tuấn A sử dụng số tiền 1.920.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 990.000 đồng (Tuấn A thua số tiền 930.000 đồng); B sử dụng số tiền 1.640.000 đồng để chơi, khi bị bắt thu giữ số tiền 2.080.000 đồng (Bắc thắng số tiền 440.000 đồng).

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

  • - Thu giữ tại 01 chiếu đánh bạc dưới hình thức đánh chắn: 01 bộ bài chắn có 100 lá bài và số tiền 8.460.000 đồng mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc;
  • - Thu giữ tại 01 chiếu đánh bạc dưới hình thức đánh liêng: 01 bộ tú lơ khơ có 52 lá bài, số tiền 14.660.000 đồng mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc.

Địa điểm các đối tượng sử dụng để đánh bạc (phòng 105, tầng 1 Chung cư S, số A C, phường Y, quận H) là nơi Công ty cổ phần Đ1 là chủ đầu tư tòa nhà, sử dụng để nhân viên lái xe của Công ty N2 chờ được gọi để đi lái xe. Việc các đối tượng sử dụng địa điểm này để thực hiện hành vi đánh bạc Công ty không cho phép và hoàn toàn không biết.

Các đối tượng đều khai tự rủ nhau đánh bạc, không có ai khởi xướng, rủ rê các công cụ, phương tiện các bộ bài đều có sẵn tại phòng nghỉ; không có ai thu hồ phế, tổ chức cầm cố tài sản, canh gác, phục vụ. Ngoài 09 đối tượng có hành vi đánh bạc tại phòng 105 thuộc tầng A Chung cư S, thời điểm bắt quả tang còn có Đặng Ngọc A2 là nhân viên lái xe của Công ty ngồi trong phòng để chờ đi làm, không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Tại Cáo trạng số 281/CT-VKS-HĐ ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố: Nguyễn Thanh T, Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Văn T5, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hữu B, Quách Đức S1 có lý lịch nêu trên cùng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan. Các bị cáo xuất trình văn bản về việc chấm dứt hợp đồng lao động, cho thôi việc của đơn vị các bị cáo làm việc trước khi bị bắt và đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng 281/CT-VKS-HĐ ngày 28/10/2024. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
  • + Đỗ Văn C 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.
  • + Vũ Ngọc V 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.
  • + Nguyễn Hữu B 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.
  • + Nguyễn Tiến T3 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.
  • + Quách Đức S1 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.

Đề nghị giao các bị cáo cho hưởng án treo về Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Anh D1 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T5 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 24/8/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Đỗ Tuấn A bằng hình thức phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo do các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài chắn 100 lá bài, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc đã thu giữ.

Về án phí: Các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của các bị cáo là quả tang, rõ ràng; lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 21/8/2024, tại phòng 105 thuộc tầng 1, Chung cư S (số A C, phường Y, quận H, Hà Nội) các bị cáo chia thành 2 chiếu bạc, chơi bài sát phạt nhau bằng tiền. Chiếu đánh liêng gồm Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Văn T5, Quách Đức S1 với tổng số tiền dùng đánh bạc là 14.660.000 đồng và 60.000 đồng tiền gà; chiếu đánh chắn gồm Nguyễn Anh D1, Nguyễn Thanh T, Đỗ Tuấn A và Nguyễn Hữu B với số tiền chứng minh được sử dụng để đánh bạc là 8.460.000 đồng. Đến 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an quận H, Hà Nội tiến hành kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố.

[3]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Trong nhiều năm gần đây, đánh bạc đã trở thành một tệ nạn bị dư luận xã hội lên án; trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội; là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác; dẫn đến những hậu quả nặng nề cho toàn xã hội, vì vậy cần có hình phạt phù hợp đối với các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá mức độ hành vi, vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng tự nguyện tham gia, cùng là người thực hành. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Đa số các bị cáo phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội các bị cáo dều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo T5 có bố đẻ là thương binh nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Thanh T nhân thân đã từng bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật năm 2005, nay lại tiếp tục phạm tội nên chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu hình phạt nghiêm khắc và cao hơn các bị cáo khác. Đối với cáo bị cáo có số tiền dùng đánh bạc nhiều hơn, được thu lời từ việc đánh bạc cần có hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại.

Các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Số tiền thu giữ trên 02 chiếu bạc 23.120.000 đồng là số tiền sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài và 01 bộ bài chắn 100 lá bài là phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Văn T5, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hữu B, Quách Đức S1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
      1. Xử phạt Đỗ Văn C 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

        Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      2. Xử phạt Vũ Ngọc V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

        Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường X. quận B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      3. Xử phạt Nguyễn Tiến T3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

        Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      4. Xử phạt Nguyễn Hữu B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

        Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      5. Xử phạt Quách Đức S1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

        Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn T5 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày đã tạm giữ (từ ngày 21/8/2024 đến 24/8/2024) tương đương với 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

      Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an quận H, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn T5 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự.

    4. Xử phạt Nguyễn Anh D1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày đã tạm giữ (từ ngày 21/8/2024 đến 24/8/2024) tương đương với 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

      Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an quận H, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn T5 cho Ủy ban nhân dân phường M, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự.

    5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Tuấn A 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
    6. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    7. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” với bị cáo Nguyễn Thanh T, Vũ Ngọc V, Nguyễn Tiến T3, Đỗ Văn C, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Văn T5, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hữu B, Quách Đức S1 theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 23.120.000 đồng đã thu giữ (hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1052739 của Chi cục thi hành án dân sự tại Kho bạc nhà nước quận H theo Phiếu ủy nhiệm chi ngày 01/11/2024).
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ, số lượng 52 cây, màu xanh; 01 bộ chắn, số lượng 100 cây, màu trắng. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông).
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND TP.Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 345/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 345/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T12.24 BA Nguyen Huu Bac + ĐP (248-Hòa) 345 12.12.24
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger