TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 345/2024/HS-ST
Ngày: 25/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo
- Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị H - Kiểm sát viên.
(Tại điểm cầu trung tâm)
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 317/2024/TLST/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Văn M
(tên gọi khác: không), sinh năm 1991, tại: Cà Mau; Thường trú: Khóm D, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Phòng trọ số 2, số H, đường A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Võ Văn C; Mẹ: Võ Thị K; Có vợ và 02 người con (sinh năm 2015, 2019); Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 28/02/2024.
(Bị cáo Võ Văn M có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).
- Bị hại: anh Phạm Đức H1, sinh năm 2003
Địa chỉ: 3 N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 38 phút ngày 26/02/2024, anh Phạm Đức H1 ra quán cơm tại địa chỉ số G, N, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh của gia đình anh H1 bán để ăn cơm. Sau khi ăn xong, anh H1 để điện thoại di động Iphone 11, màu xanh ngọc 64Gb trên bàn rồi đi vệ sinh. Lúc này, Võ Văn M là khách đến ăn cơm ngồi bàn kế bên quan sát thấy điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc 64Gb để trên bàn không người trông coi nên M nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Mến tiếp tục quan sát thấy không có ai nên M đi đến sát bàn để điện thoại di động trên, dùng tay trái lấy điện thoại di động chuyền qua tay phải, bỏ vào túi quần bên phải rồi đi ra khỏi quán cơm và điều khiển xe mô tô biển số: 67M8-6372 đi về nhà trọ ở địa chỉ số H, đường A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 10 giờ 48 phút cùng ngày, anh H1 đi vệ sinh ra thì phát hiện mất điện thoại di động đã để bàn trước đó nên đến Công an phường T, thành phố T trình báo sự việc.
Thông qua chức năng tìm kiếm Iphone, khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/02/2024, Công an phường T cùng anh H1 phát hiện điện thoại di động Iphone 11 xanh ngọc 64Gb đang ở vị trí gần nhà trọ số H, đường A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến trước nhà trọ S thì phát hiện Võ Văn M đang đứng. Tiến hành kiểm tra hành chính đối với M thì phát hiện điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc của anh H1 trong túi quần bên trái của M, nên Công an phường T đưa M về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Võ Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá số 44-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 04/03/2024 kết luận 01 điện thoại di động Iphone 11, màu xanh ngọc, 64GB, số Imei 35655610796895 có giá trị 5.097.000 đồng
Tại bản Cáo trạng số 312/CT-VKSTPTĐ ngày 13/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Võ Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Võ Văn M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Phần dân sự và vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Võ Văn M không tranh luận, bào chữa.
Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Văn M phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 26/02/2024 tại quán cơm địa chỉ số G, N, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Văn M có hành vi lợi dụng sự sơ hở lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc 64GB của anh Phạm Đức H1 có giá trị 5.097.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phạm Đức H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc 64GB, số Imei 35655610796895, sim số 0906367656, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho anh Phạm Đức H1.
- - 01 quần short kaki màu đen, 01 áo thun màu đen, 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng) là trang phục bị cáo mang khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô biển số 67M8-6372 (đã qua sử dụng). Xác minh xe ngày 01/04/2024 chủ sở hữu là Nguyễn Văn D, địa chỉ H, B, B, L. Qua xác minh tại địa chỉ H, B, B, L được biết đương sự Nguyễn Văn D có đăng ký hộ khẩu thường trú tuy nhiên không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Qua làm việc M khai nhận xe mô tô trên M mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, không có giấy tờ xe tại một công trình M từng làm vào tháng 8 năm 2020. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Võ Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Võ Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Ghi nhận bị hại Phạm Đức H1 không yêu cầu bồi thường.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 quần short kaki màu đen, 01 áo thun màu đen, 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng).
- + 01 xe mô tô biển số 67M8-6372, số máy: VTH152FMH-4013415, số khung: RRHWCH4RH7A013415: giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- (Theo Phiếu nhập kho số NK24/305C ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- - Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 345/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 345/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
