|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 345/2024/DS-PT Ngày 02-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng |
Các Thẩm phán: |
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
Ông Nguyễn Trung Dũng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 232/2024/QĐ-PT ngày 03/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 315/2024/QĐ-PT ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Phú T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: số G, Tổ A, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Công T1, sinh năm 1977; địa chỉ: số A, đường C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (hợp đồng ủy quyền ngày 03/10/2023); có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Lê Phúc E, sinh năm 1984; địa chỉ: số I, tổ I, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Công ty TNHH T2; địa chỉ: số C, đường N, khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lê Phúc E: Bà Đinh Thị Kim D, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (giấy ủy quyền ngày 14/6/2024); có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đinh Thị Kim D, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (giấy ủy quyền ngày 17/01/2024); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Mộng C, sinh năm 1974; địa chỉ: số I, đường P, tổ F, khu phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1949 và ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1955; cùng địa chỉ: số A, đường Y, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Phú T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Đơn khởi kiện ngày 05/10/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Phú T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Công T1 trình bày:
Ngày 12/7/2023, giữa ông Phạm Phú T và ông Lê Phúc E, Công ty TNHH T2 (viết tắt Công ty T2) do ông Hoàng Mộng C là người đại diện theo ủy quyền có giao kết hợp đồng vay tiền. Theo hợp đồng vay tiền, ông E và Công ty T2 vay của ông T 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), lãi suất do các bên thoả thuận, thời gian vay 15 ngày, từ ngày 12/7/2023 đến ngày 27/7/2023.
Ông T đã chuyển khoản cho ông E và Công ty T2 do ông Hoàng Mộng C đại diện 2.775.000.000đồng (hai tỷ bảy trăm bảy mươi lăm triệu đồng), số tiền còn lại 225.000.000đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng), ông T giao tiền trực tiếp cho người đại diện của Công ty T2 là ông C và ông E ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Đến hạn trả nợ, ông E và Công ty T2 xin gia hạn thời gian trả nợ 03 tháng từ ngày 12/7/2023 đến ngày 12/10/2023, lãi suất các bên thoả thuận miệng 3,5%/tháng x 03 tháng = 315.000.000đồng (ba trăm mười lăm triệu đồng), ông E và Công ty T2 đã thanh toán cho ông T 306.000.000 đồng tiền lãi, còn nợ 9.000.000 đồng, cụ thể:
- Lần 1: ngày 02/8/2023, trả 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) do chủ tài khoản Hoàng Mộng C chuyển khoản.
- Lần 2: ngày 31/8/2023, trả 216.000.000đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng) do chủ tài khoản Đặng Thị Trà M chuyển khoản.
Hết thời gian vay theo thoả thuận, nhiều lần ông T yêu cầu ông E và Công ty T2 trả nợ, nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả tiền làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T.
Tại đơn khởi kiện ngày 05/10/2023, ông T yêu cầu ông E và Công ty T2 trả tiền nợ gốc 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), không yêu cầu trả tiền lãi, vì bên vay đã trả lãi cho ông T theo thoả thuận tính đến ngày 05/10/2023.
Ngày 16/01/2024, ông T nộp đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông E và Công ty T2 trả tiền lãi trên tiền nợ gốc 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), từ ngà y 12/10/2023 tạm tính đến ngày 12/4/2024 theo cách tính 3.000.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 06 tháng = 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T yêu cầu ông E và Công ty T2 trả tiền tạm tính đến ngày 27/3/2024 là 3.275.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm bảy mươi năm triệu đồng), trong đó: nợ gốc 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), nợ lãi 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi năm triệu đồng) theo cách tính 3.000.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 5,5 tháng.
Để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) ông E và Công ty T2 đã giao cho ông T giữ 03 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656847, số vào sổ CT49166 ngày 08/01/2020 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2; số CT 656856, số vào sổ CT49175 ngày 08/01/2020 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2; số CP 612782, số vào sổ CS 11640 ngày 12/4/2019 do Sở T3 cấp cho bà Trần Thị Xuân L. Ngay sau khi ông E và Công ty T2 trả hết số tiền nợ, ông Phạm Phú T sẽ trả lại bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang giữ nêu trên.
Bị đơn Công ty TNHH T2 trình bày:
Ngày 12/7/2023, Công ty T2 và ông Lê Phúc E có vay của ông Phạm Phú T 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), lãi suất do các bên thoả thuận không ghi trong hợp đồng, thời gian vay 15 ngày, từ ngày 12/7/2023 đến ngày 27/7/2023, tiền lãi và tiền gốc trả một lần vào ngày 27/7/2023.
Tuy nhiên, ông T không giao đủ 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) mà chỉ giao 2.775.000.000 đồng, số tiền 225.000.000 đồng còn lại trừ trực tiếp 15 ngày tiền lãi trên số tiền vay 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) cho lãi suất phải trả do ông T đưa ra là 0,5%/ngày, tương đương 15.000.000 đồng/ngày. Vì đang cần nguồn tiền để giải quyết công việc nên Công ty T2 và ông E không có ý kiến về việc ông Thạch t tiền lãi trước trong số tiền vay và nhắn tin xác nhận đã nhận đủ tiền.
Do ông T tính lãi cao trong thời điểm làm ăn thua lỗ, khó khăn về kinh tế nên hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền, Công ty T2 và ông E chưa trả tiền gốc cho ông T nên từ ngày 12/7/2023 đến 12/10/2023 ông E và Công ty T2 đã phải trả cho ông T 02 lần tiền lãi tổng số tiền 306.000.000 đồng, theo thời gian cụ thể sau:
Ngày 02/8/2023, chuyển khoản 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) cho 06 ngày tiền lãi từ ngày 27/7/2023 đến ngày 02/8/2023 x lãi suất 15%/tháng x 3.000.000.000 đồng.
Vì không có tiền để tiếp tục trả lãi 15%/tháng nên thời gian tiếp theo Công ty T2 chưa thanh toán tiền lãi thì ông T gọi điện thoại nói giảm tiền lãi xuống 08%/tháng và chụp hình cách tính lãi từ ngày 02/8 đến 31/8/2023 là 27 ngày x 08% x 3.000.000.000 đồng = 216.000.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng) cùng số tài khoản nhận tiền lãi. Vì vậy ngày 31/8/2023 Công ty T2 do chủ tài khoản Đặng Thị Trà M đã chuyển khoản tiền lãi cho ông T 216.000.000 đồng.
Công ty T2 không thừa nhận đã thỏa thuận miệng lãi suất 3,5%/tháng, không thừa nhận có thỏa thuận miệng đề nghị gia hạn thời gian trả nợ 03 tháng tính từ ngày 12/7/2023 như lời trình bày của ông T.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty T2 chỉ đồng ý trả ông T tiền gốc thực tế đã nhận 2.775.000.000 đồng, đồng ý trả tiền lãi trên số tiền gốc thực tế nhận. Ông T chỉ giao 2.775.000.000 đồng tiền gốc, tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 08 tháng 15 ngày x 2.775.000.000 đồng x 10%/năm = 195.776.000 đồng nhưng từ ngày 12/7/2023 đến 18/01/2024 Công ty T2 và ông Lê Phúc E đã trả cho ông T tổng số tiền lãi 306.000.000 đồng, vượt quá số tiền lãi phải trả theo quy định của pháp luật nên Công ty T2 đề nghị trừ số tiền lãi đã trả vượt quá quy định vào số tiền gốc phải trả 2.775.000.000 đồng.
Công ty T2 đồng ý tiếp tục trả tiền lãi cho ông T trên số tiền chưa thanh toán theo quy định của pháp luật đến khi trả hết số tiền nợ.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, trong hợp đồng vay tiền có thể hiện ông E và Công ty T2 đã giao cho ông Phạm Phú T giữ 03 bản chính GCNQSDĐ như ông T trình bày. Công ty T2 đề nghị ông T trả lại 03 bản chính GCNQSDĐ nêu trên khi trả xong nợ cho ông T.
Bị đơn ông Lê Phúc E trình bày:
Thống nhất trình bày của Công ty T2. Ông T nhờ Văn phòng Công chứng soạn trước hợp đồng vay tiền rồi giao cho ông E đem cho ông C ký và giao lại cho ông T. Khi ký hợp đồng ông C không gặp trực tiếp ông T, mọi giao dịch nhận tiền vay và trả lãi đều thực hiện bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản. Ông E không thừa nhận đã cùng với ông C trực tiếp nhận 225.000.000 đồng như ông T trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Mộng C trình bày:
Ông C là người được Công ty T2 ủy quyền ký hợp đồng vay tiền với ông T, khi ký hợp đồng ông C không gặp trực tiếp ông T mà ông E đưa hợp đồng cho ông C ký. Ông T chuyển số tiền 2.775.000.000 đồng qua tài khoản của Công ty và Công ty thanh toán tiền lãi cho ông T cũng qua tài khoản do ông T cung cấp, ông T thừa nhận đã nhận tiền lãi. Từ khi ký hợp đồng đến khi ông T khởi kiện, ông C không gặp trực tiếp ông T nên ông C không thừa nhận lời trình bày của ông T nội dung trong ngày 12/7/2023 đã trực tiếp nhận 225.000.000 đồng do ông T giao cho ông C và ông E.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Xuân L và ông Nguyễn Hữu Đ trình bày:
Ngày 12/7/2023 bà L, ông Đ đã ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 6409, quyển số 07/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị G cho ông E toàn quyền quyết định đối với Giấy quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 612782, số vào sổ CS11640 ngày 12/4/2019 do Sở T3 cấp cho bà Trần Thị Xuân L. Ông Đ, bà L không có ý kiến về việc ông E giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Thạch giữ, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
***
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 92, 147, 273 và Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 275, 280, 401, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Phú T với bị đơn ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Phú T về việc buộc ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 trả tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 27/3/2024 là 610.223.750 đồng (sáu trăm mười triệu hai trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
- Buộc ông Phạm Phú T phải trả ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656847, số vào sổ cấp GCN: CT 49166 ngày 08/01/2020 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656856, số vào sổ cấp GCN: CT 49175 ngày 08/01/2020 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 612782, số vào sổ cấp GCN: CS 11640 ngày 12/4/2019 do Sở T3 cấp cho bà Trần Thị Xuân L.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 phải liên đới trả ông Phạm Phú T 2.664.776.250 đồng (hai tỷ sáu trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Phạm Phú T phải chịu 30.511.187 đồng (ba mươi triệu năm trăm mười một nghìn một trăm tám mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 46.000.000 đồng (bốn mươi sáu triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000966 ngày 20/10/2023 và 7.500.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0004105 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T. Hoàn trả ông Phạm Phú T 22.988.813 đồng (hai mươi hai triệu chín trăm tám mươi tám nghìn tám trăm mười ba đồng).
Ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 85.295.525 đồng (tám mươi năm triệu hai trăm chín mươi năm nghìn năm trăm hai mươi năm đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 29/3/2024 nguyên đơn ông Phạm Phú T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Công T1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 2.775.000.000 đồng là có căn cứ; về ti ền lãi: bị đơn thanh toán lãi 15%/tháng, sau đó 08%/tháng, là không có tranhn chấp, theo quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật Dân sự có căn cứ áp dụng mức lãi suất 20%/năm. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng tính lãi suất với mức 1,67%/tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Mộng C, bà Trần Thị Xuân L và ông Nguyễn Hữu Đ có yêu cầu giải quyết vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Theo giấy ủy quyền ngày 17/01/2024, bà Đinh Thị Kim D, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện hợp pháp của Công ty T2. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm ghi: Bà Đinh Thị Kim D, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố C, đường N M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương là chưa chính xác cần điều chỉnh lại địa chỉ của bà D.
Theo hai giấy ủy quyền ngày 25/10/2023, Công ty T2 ủy quyền cho ông Lê Phúc E, ông Hoàng Mộng C tham gia tố tụng nhưng bản án sơ thẩm không ghi thông tin này là có thiếu sót (bút lục số 37 – 39). Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, Công ty T2 thông báo đã chấm dứt ủy quyền cho ông E, ông C, nên không cần điều chỉnh lại, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 18/01/2024, thiếu thành phần người tham gia tố tụng là ông Hoàng Mộng C – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bút lục số 72 – 76), là không đúng quy định tại Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đương sự và ngày 26/02/2024, ngày 12/3/2024, ông C đã có đơn xin giải quyết vắng mặt tại buổi đối chất và phiên tòa (bút lục số 79, 95), Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về nợ gốc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 3.000.000.000 đồng.
Theo nội dung hợp đồng vay tiền ngày 12/7/2023, giữa ông T (bên cho vay – bên A), ông E, Công ty T2 do ông C là đại diện (bên vay – bên B), thể hiện: Ông T cho ông E, Công ty T2 vay 3.000.000.000 đồng; thời hạn vay 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng; lãi suất hai bên tự thỏa thuận; bên B sẽ giao cho bên A cả tiền gốc và lãi vào ngày 27/7/2023; để đảm bảo cho khoản tiền vay, bên B đồng ý ủy quyền toàn quyền cho bên A các tài sản: quyền sử dụng đất thuộc thửa số 89, tờ bản đồ số 25-2, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 612782, số vào sổ CS11640 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T3 cấp ngày 12/4/2019; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1974, tờ bản đồ số 21, tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 656856, số vào sổ CT49175 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T3 cấp ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021; quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1965, tờ bản đồ số 21, tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 656847, số vào sổ CT49166 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T3 cấp ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021; bên B bàn giao bản chính các GCNQSDĐ nêu trên cho bên A cất giữ; sau 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, bên A sẽ hoàn trả lại cho bên B các GCNQSDĐ nêu trên; trong thời gian nhận ủy quyền toàn quyền các tài sản trên, bên A cam kết không được mua bán chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn hay ủy quyền cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác.
Ông T, ông E, Công ty T2 thống nhất trình bày về việc ký kết hợp đồng vay tiền ngày 12/7/2023; số tiền bị đơn đã nhận 2.775.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản; số tiền lãi đã trả 306.000.000 đồng; căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không cần chứng minh.
Các đương sự không thống nhất về số tiền nợ gốc 225.000.000 đồng; nguyên đơn trình bày đã giao cho bị đơn vào ngày 12/7/2023, việc giao nhận không có giấy tờ; bị đơn trình bày nguyên đơn cho vay 3.000.000.000 đồng nhưng chỉ giao 2.775.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, số tiền còn lại 225.000.000 đồng thì nguyên đơn trừ vào tiền lãi nên không giao cho bị đơn.
Tại Điều 1 của hợp đồng, hai bên đã thỏa thuận: bên A đồng ý cho bên B vay và bên B đồng ý vay của bên A số tiền 3.000.000.000 đồng; bên B sẽ giao cho bên A cả tiền gốc và lãi vào ngày 27/7/2023. Như vậy, căn cứ vào nội dung hợp đồng, có cơ sở xác định bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 3.000.000.000 đồng. Đồng thời, ông C có nhắn tin xác nhận số tiền 3.000.000.000 đồng. Bị đơn trình bày chỉ nhận được 2.775.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, số tiền còn lại 225.000.000 đồng thì nguyên đơn trừ vào tiền lãi nên không giao cho bị đơn; trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận; bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ số tiền 225.000.000 đồng là tiền lãi. Do đó, có cơ sở xác định nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 3.000.000.000 đồng.
[2.2] Về tiền lãi: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi 3.000.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 08 tháng 20 tháng (tạm tính từ ngày 12/10/2023 đến ngày 02/7/2024) = 432.200.000 đồng.
Nguyên đơn trình bày, đến thời hạn trả nợ, bị đơn xin gia hạn thời gian trả nợ 03 tháng từ ngày 12/7/2023 đến ngày 11/10/2023, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 3,5%/tháng x 03 tháng = 315.000.000 đồng, ông E và Công ty đã thanh toán cho ông T 306.000.000 đồng vào ngày 02/8/2023 (90.000.000 đồng) và ngày 31/8/2023 (216.000.000 đồng), còn nợ 9.000.000 đồng. Bị đơn trình bày, hai bên không có thỏa thuận lại thời hạn trả nợ gốc, mà do bị đơn chưa trả được nợ gốc nên tiếp tục trả lãi; hai bên thỏa thuận tiền lãi 15%/tháng, lãi suất này đúng bằng số tiền ông Thạch trừ tiền lãi đã trả trước của 15 ngày từ ngà y 12/7/2023 đến ngày 27/7/2023 là 225.000.000 đồng; số tiền 90.000.000 đồng trả cho 06 ngày tiếp theo từ ngày 28/7/2023 đến ngày 02/8/2023; số tiền 216.000.000 đồng, do bị đơn không có tiền tiếp tục trả lãi nên nguyên đơn hạ lãi suất xuống 08%/tháng; bị đơn đồng ý trả nợ gốc 2.775.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định 10%/năm, số tiền 306.000.000 đồng đề nghị được khấu trừ vào tiền lãi phải trả, khấu trừ vào tiền gốc. Các đương sự có tranh chấp với nhau về mức lãi suất, căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất khi có sự mâu thuẫn thì bằng 50% mức lãi suất 20%/năm, nên ông T yêu cầu tính lãi 20%/năm, tương đương 1,67%/tháng là chưa phù hợp pháp luật. Như vậy, tiền lãi được tính như sau:
- - Tiền lãi tính từ ngày 12/7/2023 đến ngày 27/7/2023: 3.000.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 ngày = 12.450.000 đồng;
- - Tiền lãi tính từ ngày 28/7/2023 đến ngày 02/8/2023: 3.000.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 06 ngày = 4.980.000 đồng;
- - Tiền lãi bị đơn đã đóng 90.000.000 đồng, khấu trừ vào tiền lãi phải chịu theo quy định (12.450.000 đồng + 4.980.000 đồng), số tiền lãi còn lại 72.570.000 đồng;
- - Tính đến ngày 02/8/2023, tiền nợ gốc còn 3.000.000.000 đồng - 72.570.000 đồng = 2.927.430.000 đồng;
- - Tiền lãi tính từ ngày 03/8/2023 đến ngày 31/8/2023: 2.927.430.000 đồng x 0,83%/tháng x 29 ngày = 23.487.747 đồng;
- - Tiền lãi bị đơn đã đóng 216.000.000 đồng, khấu trừ vào tiền lãi phải chịu theo quy định (23.487.747 đồng), số tiền lãi còn lại 192.512.253 đồng;
- - Tính đến ngày 31/8/2023, tiền nợ gốc còn 2.927.430.000 đồng - 192.512.253 đồng = 2.734.917.747 đồng;
- - Tiền lãi tính từ ngày 01/9/2023 đến ngày xét xử phúc thẩm (02/7/2024): 2.734.917.747 đồng x 0,83%/tháng x 10 tháng 01 ngày = 227.754.830 đồng.
Như vậy, bị đơn ông E và Công ty T2 phải liên đới trả cho ông T nợ gốc 2.734.917.747 đồng và tiền lãi 268.663.577 đồng, tổng cộng 3.003.581.324 đồng.
[2.3] Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận hai bên thỏa thuận bảo đảm số tiền vay bằng việc bị đơn giao bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn cất giữ nên buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn bản chính 03 GCNQSDĐ, cụ thể:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656847, số vào sổ CT 49166 ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656856, số vào sổ CT 49175 ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021, do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 612782, số vào sổ CS 11640 ngày 12/4/2019 do Sở T3 cấp cho bà Trần Thị Xuân L.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định.
Từ những phân tích trên, cần sửa bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 3.003.581.324 đồng (trong đó: nợ gốc 2.734.917.747 đồng và tiền lãi 268.663.577 đồng), buộc nguyên đơn trả lại cho bị đơn bản chính 03 GCNQSDĐ; khô ng chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 734.618.676 đồng (trong đó: nợ gốc 265.082.253 đồng và tiền lãi 469.536.423 đồng; kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Phú T.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phú T với bị đơn ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Phú T về việc buộc ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 trả tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 02/7/2024 là 734.618.676 đồng (bảy trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm mười tám nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).
- Buộc ông Phạm Phú T phải trả ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656847, số vào sổ CT 49166 ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021 do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 656856, số vào sổ CT 49175 ngày 08/01/2020, cập nhật biến động lần cuối ngày 29/12/2021, do Sở T3 cấp cho Công ty TNHH T2.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 612782, số vào sổ CS 11640 ngày 12/4/2019 do Sở T3 cấp cho bà Trần Thị Xuân L.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Phú T nợ gốc 2.734.917.747 đồng và tiền lãi 268.663.577 đồng, tổng cộng 3.003.581.324 đồng (ba tỷ không trăm lẻ ba triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử phúc thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Phạm Phú T phải chịu số tiền 33.384.747 đồng (ba mươi ba triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), được khấu trừ và o 53.500.000 đồng (năm mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, còn trả lại cho ông Phạm Phú T 20.115.253 đồng (hai mươi triệu một trăm mười lăm nghìn hai trăm năm mươi ba đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000966 ngày 20/10/2023 và số 0004105 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương (Lê Công T1 nộp thay).
Ông Lê Phúc E và Công ty TNHH T2 phải liên đới chịu số tiền 92.071.626 đồng (chín mươi hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).
Trả cho ông Phạm Phú T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002412 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương (Lê Công T1 nộp thay).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên Hằng |
Bản án số 345/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 345/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
