Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 345/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 06 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn; bà Lê Thị Huyền
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/03/2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/05/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phạm Duy S, sinh ngày 11/3/1985; CCCD [...], cấp ngày 15/9/2024. ĐKHK: số 6 ngõ A đường Ỷ, TDP Đ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: số B đường C phường H, thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh ngày 01/02/1986; CCCD [...], cấp ngày 04/10/2022. ĐKHK và chỗ ở hiện tại: số 6 ngõ A đường Ỷ, TDP Đ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội;
  • Có mặt: Anh S; Vắng mặt: chị T (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn - anh Phạm Duy S trình bày: Anh và chị Trần Thị T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/04/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung, nên từ năm 2017 vợ chồng đã nhiều lần ly thân để cho nhau cơ hội; tuy nhiên từ đầu năm 2024 anh thấy chị T không thay đổi nên đã cùng hai con vào trong thành phố Hồ Chí Minh sinh sống; mục đích để cho chị T nhận thấy được tầm trọng của gia đình, nhưng chị T vẫn không thay đổi. Nay anh xác định vợ chồng không thể hàn gắn với nhau được nữa, không còn tình cảm vợ chồng với chị T, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
    • - Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường. Từ khi vợ chồng ly thân, hai con chung ở với anh tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con vì các con đã sinh hoạt, học tập ổn định tại thành phố Hồ Chí Minh, anh không muốn các con bị xáo trộn về sinh hoạt, học tập.
    • - Về cấp dưỡng: Nếu anh được nuôi cả hai con chung, anh không đề nghị chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    • -Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
  2. Bị đơn - chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Duy S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/04/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, không ngồi nói chuyện được với nhau, vợ chồng ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc, không đạt được mục đích hôn nhân. Cuộc sống hôn nhân vợ chồng chị diễn ra không có sự thấu hiểu, chia sẻ lẫn nhau. Đến đầu năm 2024, chị đã chuyển ra ngoài sống, vợ chồng sống cuộc sống ly thân từ đó tới nay.

    Trước yêu cầu xin ly hôn của anh S, chị xác nhận mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, nhưng chị không đồng ý với đề nghị xin ly hôn của anh S vì hiện tại các con còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của cả bố và mẹ.

    • - Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường. Từ khi vợ chồng ly thân, các con chung ở với anh S. Trường hợp, Tòa án giải quyết ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung.
    • - Về cấp dưỡng: Nếu được nuôi con chung, chị không đề nghị anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    • -Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
  3. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Phạm Duy K và cháu Phạm Nguyên K1 đều có nguyện vọng được ở với bố đẻ là anh Phạm Duy S, sau khi bố mẹ ly hôn.
  4. Tại phiên tòa:
    • 4.1. Anh Phạm Duy S trình bày: Nguyên nhân dẫn đến việc anh xin ly hôn chị T là từ năm 2017 chị T đi theo “Hội Đức Chúa T1” nên đã bỏ cả phong tục thờ cúng tổ tiên trong nhà, bỏ bê gia đình để đi theo hội. Anh và gia đình đã khuyên bao chị T, chị T đã nhiều lần hứa từ bỏ hội, nhưng chỉ được một, hai tháng rồi lại tiếp tục đi theo hội này. Đến năm 2023 anh thấy chị T có những phát ngôn trong gia đình mà ảnh hưởng đến sự nhận thức của các con, nên đã quyết định đưa hai con vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, mục đích để các con không bị ảnh hưởng các tư tưởng của hội đức chúa trời và để chị T quyết định việc lựa chọn gia đình hay đi theo hội. Tuy nhiên, từ khi anh và các con vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh thì chị T chỉ vào thăm con rồi lại đi, chứ không lựa chọn gia đình, ở lại để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh S vẫn giữ nguyên đề nghị xin được giải quyết ly hôn, do tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung: Anh S vẫn đề nghị được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung, nếu được nuôi cả 02. Tài sản chung, công nợ chung anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • 4.2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu ý kiến:
      • - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Thư ký đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
      • - Về nội dung:
        • + Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Duy S: xử anh Phạm Duy S được ly hôn với chị Trần Thị T.
        • + Về con chung: Do cả 02 con chung đều đang ở với bố kể từ khi anh S, chị T ly thân và cả 02 con chung đều có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy, giao 02 con chung là cháu Phạm Duy K và cháu Phạm Nguyên K1 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Chị T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, không ai được quyền ngăn cản. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị T đối với anh S.
        • + Tài sản chung, công nợ chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T đều không đề nghị Tòa án giải quyết.
        • + Đề nghị anh S phải chịu án phí dân sự về ly hôn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

  • [1.1]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn - chị Trần Thị T có đăng ký hộ khẩu và cư trú tại phường D, quận H, Hà Nội, nên Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • [1.2] Về sự vắng mặt của Bị đơn: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của chị T không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án do trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của chị T. Hội đồng xét căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

[2] Về nội dung:

  • [2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/4/2011, nên là hôn nhân hợp pháp.

    Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S thì thấy: Anh S cho rằng cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến phải ly thân và đến nay không thể hàn gắn được. Chị Trần Thị T cũng xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã ở mức trầm trọng, nhưng không đồng ý ly hôn vì các con. Hội đồng xét xử xác định anh S và chị T không còn tình cảm vợ chồng, nên không có biện pháp cải thiện, khắc phục mâu thuẫn vợ chồng để đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S đối với chị Trần Thị T.

  • [2] Về con chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường.

    Khi ly hôn anh Phạm Duy S cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung kể từ khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác về nuôi con; anh S không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Chị Trần Thị T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy việc nuôi con chung vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bố mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất, phù hợp với điều kiện sinh hoạt, học tập của con chung; điều kiện nuôi dưỡng của bố/mẹ. Xét thấy cả anh S và chị T hiện tại cả anh S và chị T đều có thu nhập ổn định, đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Tuy nhiên, về thực tế thì từ khi anh S, chị T ly thân (năm 2017) đến nay thì cả 02 con chung đều ở với anh S, đều vẫn đang học tập tại thành phố Hồ Chí Minh, cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với anh S. Hội đồng xét xử thấy rằng, để đảm bảo việc học tập, sinh hoạt được ổn định, tránh sự xáo trộn ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các cháu, nên giao 02 con chung cho anh Phạm Duy S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Trần Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  • [3] Về cấp dưỡng: Anh Phạm Duy S không đề nghị cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi hai con chung cho chị T đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  • [4] Về tài sản chung, công nợ chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • [5] Về án phí: Anh Phạm Duy S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S đối với chị Trần Thị T.

    Xử cho anh Phạm Duy S được ly hôn chị Trần Thị T.

  2. Về con chung: Xác nhận anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường.

    Giao cháu Phạm Duy K và Phạm Nguyên K1 cho anh Phạm Duy S chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thoả thuận thay đổi khác.

    Chị Trần Thị T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Thị T đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  4. Về tài sản chung: Anh S và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh S và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: Anh Phạm Duy S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0044892 ngày 04/03/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
  7. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CTPT SƠ THẨM

 

Nguyễn Thị Tuyết Mai

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. Hội đồng xét xử

Thẩm phán chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 345/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 345/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ-ST số 345 ngày 19/06/2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger