Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 345/2024/HS-ST

Ngày 22/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hà Văn Trường

Bà Văn Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến N - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2024/HS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh N1, sinh năm 1993 tại tỉnh Quảng Ngãi; Hộ khẩu trường trú: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở trước khi bị bắt: tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Thanh S (đã mất); Mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1954; Tiền án: Không;

Tiền sự: bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 13 tháng theo Quyết định số 31/2023/QĐ-TA ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (chấp hành xong vào ngày 07/4/2024).

Bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 6 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 00 phút 11/6/2024, tại trước số nhà I đường C phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Ban C1 bắt quả tang Nguyễn Minh N2 đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Biên phòng Cửa khẩu C1 đã

chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh N1 khai nhận: Nghĩa là đối tượng nghiện ma túy, đã đi cai nghiện nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện và sử dụng ma túy. Khoảng đầu tháng 06/2024, N1 được một đối tượng không rõ thông tin (là bạn bè xã hội của N1) dẫn đến khu vực đường V, thị xã L, tỉnh Bình Thuận tìm gặp đối tượng không rõ thông tin (có tên thường gọi là B) để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, N1 đã mua của B số ma túy với giá 400.000 đồng và đã sử dụng hết. Đến chiều ngày 10/06/2024, N1 điều khiển xe mô tô Honda biển số 72H2- 1855 đến khu vực đường V, thị xã L, tỉnh Bình Thuận để tìm gặp đối tượng B. Khi gặp được B, N1 đã mua của B 06 gói ma túy Heroin với giá 600.000 đồng, mục đích để sử dụng cho cá nhân. Sau khi mua được ma túy, N1 mang toàn bộ ma túy về nhà cất giữ. Khoảng 15 giờ ngày 11/6/2024, N1 điều khiển xe mô tô Honda biển số 72H2-1855 và mang theo 06 gói ma túy nêu trên (để trong túi quần bên phải) di chuyển về thành phố V tìm kiếm nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Tuy nhiên, khi đi đến trước số nhà I đường C phường A, thành phố V thì N1 bị Ban C1 bắt quả quả tang.

Tại Kết luận giám định số 364/KL-KTHS-MT ngày 15/06/2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B kết luận: mẫu gửi giám định có khối lượng 0,1113 gam, là chất ma túy, loại Heroine.

Lời khai của Nguyễn Minh N1 phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ thu thập được (các bút lục điều tra từ số 36 đến số E).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

* Cơ quan Công an thu giữ vật chứng và các tài sản gồm:

  • - 06( sáu) gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng. Qua giám định có tổng khối lượng 0,1113 gam, là chất ma túy, loại Heroine (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định). Sau giám định hoàn lại 01 phong bì niêm phong: số 364 ngày 15 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B.
  • - 01 (một) xe máy Honda, BKS: 72H2-1855, số khung: RLHHA08011Y017879, số máy: HA08E-0017901; là xe do N1 mượn của một người bạn xã hội tên C (nhà ở khu vực xã P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để sử dụng từ đầu tháng 06/2024. Qua tra cứu dữ liệu đăng ký xe, xác định chủ xe là ông Đỗ Đại D (Địa chỉ: A T, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Hiện chưa làm việc được với ông Đỗ Đại D. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có thông báo về việc tìm chủ sở hữu, người liên quan đến xe mô tô trên, tuy nhiên chưa có kết quả.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, số seril: 357345082688084, seri2: 357325087286084, có gắn sim số: 0775003310 và 0933631823.

* Tất cả vật chứng và các tài sản trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 312/CT-VKSTPVT ngày 07/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Minh N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong: số 364 ngày 15 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe máy Honda, BKS: 72H2- 1855, số khung: RLHHA08011Y017879, số máy: HA08E-0017901 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, số seril: 357345082688084, seri2: 357325087286084, có gắn sim số: 0775003310 và 0933631823.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào hồi 15 giờ 00 phút 11/6/2024, tại trước số nhà I đường C phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Ban chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu Cảng - Bộ Chỉ Huy Bộ Đội Biên Phòng tỉnh B-VT bắt quả tang Nguyễn Minh N2 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1113 gam ma túy loại heroine. N1 tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong: số 364 ngày 15 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B chứa vật chứng của vụ án là chất nhà nước cấm lưu hành
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe máy Honda, BKS: 72H2- 1855, số khung: RLHHA08011Y017879, số máy: HA08E-0017901 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, số seril: 357345082688084, seri2: 357325087286084, có gắn sim số: 0775003310 và 0933631823, bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.

[6] Đối với đối tượng B, dẫn N1 tìm mua ma túy của B và mua bán ma túy diễn ra thị xã L, tỉnh Bình Thuận, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh N1 : 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong: số 364 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe máy Honda, BKS: 72H2- 1855, số khung: RLHHA08011Y017879, số máy: HA08E-0017901 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, số seril: 357345082688084, seri2: 357325087286084, có gắn sim số: 0775003310 và 0933631823.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 11/BB - CCTHADS ngày 09/10/2024.

4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 345/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 345/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh N - tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger