|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 345/2024/HC-PT Ngày 24 - 4 - 2024 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Long
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 10 tháng 4 năm 2024, ngày 16 tháng 4 năm 2024 và ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 1054/2023/TLPT-HC ngày 18 tháng 12 năm 2023.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 1647/2023/HC-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 645/2024/QĐPT-HC ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam)
Địa chỉ: Số B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: ông Mai Đại D (Có mặt);
Địa chỉ: Phòng 2401, tòa L, Vinhomes G, Số B T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Văn bản ủy quyền ngày 26/5/2023);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Võ Đức D1 – Luật sư công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Phòng 2401, tòa L, Vinhomes G, Số B T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người bị kiện: Cục trưởng Cục thuế Thành phố H.
Địa chỉ: Số F V, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Giang Văn H – Phó Cục trưởng Cục thuế Thành phố H. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 07/7/2023) (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Nguyễn Thanh P – Kiểm tra viên thuế Cục thuế Thành phố H. (Có mặt);
- Ông Lê Hữu C – Kiểm tra viên thuế Cục thuế Thành phố H. (Có mặt);
- Ông Ngô Hoàng P1 - Kiểm tra viên thuế Cục thuế Thành phố H (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Số F V, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và lời khai trong các buổi làm việc người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) có ông Mai Đại D trình bày:
Ngày 20/8/2018, Công ty S3 và Công ty TNHH S4 đã ký kết hợp đồng thi công, lắp đặt một phần dự án Nhà máy điện gió Đầm Nại II. Theo đó, Công ty S3 sẽ cung cấp, lắp đặt, thử nghiệm và chạy thử 12 trụ điện gió cho dự án Đầm Nại II.
Để thực hiện hợp đồng với S, ngày 07/9/2018, Công ty S3 và Công ty TNHH W1 đã ký hợp đồng lắp đặt tua bin gió số 1/SRVN-WDC và phụ lục ngày 02/10/2018 để giao một phần công việc của gói thầu trên cho Công ty W1. Tổng giá trị thực hiện hợp đồng là 11.027.794.800 đồng, trong đó thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng. Ngày 07/5/2019, Công ty W1 đã hoàn thành công việc theo hợp đồng và Công ty S3 đã được Công ty S5 cấp Chứng chỉ nghiệm thu đối với phần công việc nêu trên. Công ty S3 đã thanh toán đầy đủ giá trị hợp đồng và W đã phát hành 03 hóa đơn giá trị gia tăng (“GTGT”) sau cho S1:
| STT | SỐ HÓA ĐƠN | NGÀY HÓA ĐƠN | GIÁ TRỊ (ĐỒNG) | THUẾ GTGT (ĐỒNG) |
|---|---|---|---|---|
| 1. | 01GTKT0/001-0000001 | 15/11/2018 | 5.300.000.000 | 530.000.000 |
| 2. | 01GTKT0/001-0000002 | 03/6/2019 | 3.570.928.000 | 357.092.800 |
| 3. | 01GTKT0/001-0000004 | 28/11/2019 | 1.154.340.000 | 115.434.000 |
| TỔNG CỘNG | 10.025.268.000 | 1.002.526.800 | ||
Công ty S3 đã sử dụng các hóa đơn nêu trên để khấu trừ thuế giá trị gia tăng và kê khai chi phí để khấu trừ thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật.
Ngày 18/03/2021, Cục trưởng Cục thuế Thành phố H đã ban hành quyết định về việc thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế số 242/QĐ-CT-TT đối với Công ty S3. Trong quá trình thanh tra, Công ty S3 mới được Đoàn thanh tra cung cấp Thông Báo số 22222/TB-CT đề ngày 06/11/2019 của Cục Thuế Thành phố H. Theo Thông báo số 22222/TB-CT, Công ty W1 đã không thực hiện báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn từ số 0000001 - 0000200 đến cơ quan thuế cũng như không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, dẫn đến các hóa đơn nêu trên không còn giá trị sử dụng, trong đó có các hóa đơn Công ty W1 đã xuất cho Công ty S3.
Ngày 24/5/2021, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H đã ban hành Kết luận thanh tra thuế số 306/KL-CT và Quyết định số 1400/QĐ-CT xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Trong các hành vi vi phạm của Công ty S3, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H xác định rằng việc sử dụng các hóa đơn của S1 là hành vi trốn thuế dưới hình thức “sử dụng hóa đơn không có giá trị sử dụng để khai thuế giá trị gia tăng làm giảm số tiền thuế phải nộp theo quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế 2006”. Từ đó, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H đã áp dụng mức phạt đối với hành vi trốn thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng và truy thu thuế với số tiền 1.002.526.800 đồng.
Công ty S3 đã nộp toàn bộ số tiền phạt, tiền chậm nộp cũng như số tiền thuế bị truy thu theo Quyết định 1400/QĐ-CT, bao gồm số tiền phạt và tiền thuế truy thu do hành vi trốn thuế nêu trên.
Việc xử phạt Công ty S3 đối với hành vi trốn thuế dưới hình thức sử dụng hóa đơn không có giá trị sử dụng theo Quyết định số 1400/QĐ-CT của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H là không có cơ sở pháp luật vì những lý do sau:
T1 đã không thực hiện việc thông báo tình trạng hóa đơn không còn giá trị sử dụng tại Cổng thông tin điện tử của T1 đối với các hóa đơn nêu tại Thông báo số 22222 theo điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị định 51/2010/NĐ-CP, Điều 3.4 Phần II Quyết định số 438/QĐ-TCT do T1 ban hành ngày 05/4/2017. Do đó, việc Công ty S3 sử dụng các hóa đơn không vi phạm quy định pháp luật.
Trong trường hợp này, hợp đồng đã được ký kết giữa Công ty S3 và Công ty W1 vào ngày 07/9/2018. Ngày 07/5/2019, Công ty W1 hoàn thành công việc theo hợp đồng, thể hiện qua chứng chỉ nghiệm thu được Công ty S5 cấp cho Công ty S3, đồng thời, Công ty S3 đã thanh toán đầy đủ cho Công ty W1 giá trị theo hợp đồng (kể cả khoản thuế giá trị gia tăng) theo các ủy nhiệm chi và Công ty W1 đã lập các hóa đơn tương ứng với số tiền Công ty S3 đã thanh toán. Do đó, có cơ sở để khẳng định rằng, thời điểm ký kết hợp đồng là trước thời điểm Cục Thuế Thành phố H xác định các hóa đơn của Công ty W1 không còn giá trị sử dụng và việc thực hiện hợp đồng giữa Công ty W1 và Công ty S3 là có thật trên thực tế. Việc Cục trưởng Cục thuế Thành phố H không xem xét đến các tài liệu, chứng từ thực hiện hợp đồng là chưa thực sự khách quan, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty S3 và chưa đúng quy định tại mục 2.2 Công văn 7333/BTC-TCT do Bộ T2 ban hành ngày 24/06/2008.
Từ những căn cứ nêu trên, có thể thấy rằng, việc Công ty S3 sử dụng các hóa đơn là phù hợp với quy định của pháp luật, không có bất kỳ dấu hiệu nào của hành vi trốn thuế như Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H xác định tại Quyết định số 1400/QĐ-CT. Do vậy, Công ty S3 yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy một phần Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H liên quan đến việc xác định, xử phạt, truy thu thuế đối với hành vi trốn thuế của Công ty S3 đối với việc sử dụng 03 hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia tăng và kê khai chi phí khấu trừ thu nhập chịu thuế doanh nghiệp sau:
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000001 ngày 15/11/2018 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000002 ngày 03/06/2019 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000004 ngày 28/11/2019 của Công ty TNHH W1.
Buộc Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ra quyết định hoàn trả số tiền 2.005.053.600 đồng mà Công ty S3 đã thi hành theo Quyết định số 1400/QĐ-CT (bao gồm tiền phạt đối với hành vi trốn thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng và truy thu thuế với số tiền 1.002.526.800 đồng) và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật.
Tại Văn bản số 8557/CTTPHCM-NVDTPC ngày 07/7/2023, người bị kiện Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H trình bày:
Qua công tác thanh tra kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế, Cục Thuế ghi nhận Công ty S3 đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với 03 hóa đơn GTGT do Công ty W1 xuất, cụ thể:
- + Hóa đơn GTGT số 0000001 ngày 15/11/2018, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
- + Hóa đơn GTGT số 0000002 ngày 03/6/2019, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
- + Hóa đơn GTGT số 0000004 ngày 28/11/2019, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
Tuy nhiên, Công ty W1 không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, vì vậy Cục Thuế Thành phố H đã ban hành Thông báo số 22222/TB-CT ngày 06/11/2019 về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, đồng thời thông báo các hóa đơn không còn giá trị sử dụng, cụ thể:
“4. Tình hình sử dụng hóa đơn: Công ty thông báo phát hành hóa đơn gửi Cục Thuế Thành phố H ngày 12/11/2018 (qua mạng iHTKK) nhưng không thực hiện báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế theo quy định. Cụ thể:
| Tên ấn chỉ | Mẫu số | Ký hiệu | Từ số-đến số | Số lượng |
|---|---|---|---|---|
| Hóa đơn GTGT | 01GTKT0/001 | VN/18E | 0000001-0000200 | 200 |
Các hóa đơn trên của Công ty TNHH W1 không còn giá trị sử dụng”. Như vậy, 03 hóa đơn GTGT nêu trên của Công ty W1 cho công ty S3 thuộc nhóm hóa đơn đã được Cục Thuế thông báo không còn giá trị sử dụng tại Thông báo số 22222/TB-CT, vì vậy không phải là hóa đơn hợp pháp và không đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định tại khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ T2.
Do Công ty S3 đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với 03 hóa đơn không hợp pháp nêu trên, hành vi của Công ty S3 được xác định là hành vi trốn thuế, do đó bị xử phạt một lần trên số tiền thuế trốn và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 6 Điều 11 Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ.
Căn cứ các lý giải nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bác đơn khởi kiện của Công ty S3.
Tại phiên tòa:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện trình bày:
T1 đã không thực hiện việc thông báo tình trạng hóa đơn không còn giá trị sử dụng tại Cổng Thông tin điện tử của T1 đối với các hóa đơn theo điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị định 51/2010/NĐ-CP, Điều 3.4 phần II Quyết định số 438/QĐ-TCT do T1 ban hành ngày 05/4/2017.
Thông báo 22222/TB-CT ngày 06/11/2019 của Cục Thuế Thành phố H không có giá trị pháp lý do không đảm bảo cả về nội dung lẫn hình thức theo quy định tại Thông tư 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013. Do đó, Thông báo 22222/TB-CT không có giá trị pháp lý và không thể làm căn cứ để kết luận các hóa đơn mà S1 đã kê khai khấu trừ là các hóa đơn không có giá trị sử dụng.
Công ty S3 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trước khi kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các hóa đơn.
Cục Thuế Thành phố H áp dụng không đúng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hành vi sử dụng “Hóa đơn không có giá trị sử dụng” để xử phạt hành vi trốn thuế và truy thu thế đối với Công ty S3.
Do đó, người khởi kiện giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:
Công ty S3 đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng do Công ty W1 không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ ngày 02/10/2019 (theo biên bản xác minh tình trạng hoạt động của người nộp thuế tại địa chỉ đã đăng ký giữa cơ quan thuế và Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A ngày 02/10/2019) nhưng đến ngày 04/11/2019, Công ty S3 và Công ty W1 vẫn ký biên bản 01/2019 để điều chỉnh hóa đơn GTGT số 0000002 và ngày 28/11/2019, Công ty S3 vẫn tiếp tục nhận hóa đơn GTGT số 0000004 do Công ty W1 xuất. Như vậy, Công ty S3 đã có giao dịch với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Người bị kiện giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 1647/2023/HC-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 45 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 11, điểm b khoản 4 Điều 14 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 44, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 66, Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ khoản 4 Điều 103, Điều 108 của Luật Quản lý thuế ngày 29/11/2006 của Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) gồm các yêu cầu sau:
Hủy một phần Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H liên quan đến việc xác định, xử phạt, truy thu thuế đối với hành vi trốn thuế của Công ty S3 đối với việc sử dụng 03 hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia tăng và kê khai chi phí khấu trừ thu nhập chịu thuế doanh nghiệp sau:
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000001 ngày 15/11/2018 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000002 ngày 03/06/2019 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000004 ngày 28/11/2019 của Công ty TNHH W1.
Buộc Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ra quyết định hoàn trả số tiền 2.005.053.600 đồng mà Công ty S3 đã thi hành theo Quyết định số 1400/QĐ-CT (bao gồm tiền phạt đối với hành vi trốn thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng và truy thu thuế với số tiền 1.002.526.800 đồng) và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/9/2023, người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày: chúng tôi sẽ trình bày 5 căn cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện.
- - Về việc kê khai thực hiện hợp đồng là có thật và đủ điều kiện để áp dụng công văn 7333 của Bộ T2.
- - Thông báo 22222 không có giá trị, không phải là cơ sở để cơ quan Thuế căn cứ vào đó để xử phạt S1.
- - Cơ quan Thuế vin vào nghĩa vụ kê khai, phía Sarens không thể biết được có 22222 này
- - Cơ quan Thuế áp dụng Nghị định 129 năm 2013 để xử phạt S2 là áp dụng sai quy định pháp luật
- - Phía Windcare đã kê khai bổ sung năm 2022 theo quy định pháp luật là đúng, có giá trị sử dụng và được kê khai đóng thuế bình thường.
Đầu tiên, hợp đồng giữa W1 và S1 là có thật, các bên ký kết hợp đồng vào tháng 9/2018 và đã hoàn thành công việc tháng 5/2019, chúng tôi đã thanh toán tiền, chuyển khoản qua tài khoản HSBC đầy đủ giá trị hợp đồng cho bên W1. Công việc hoàn thành có xác nhận của nhà thầu chính bên S1 là nhà thầu phụ. Như vậy theo Thông tư số 9 năm 2015. Sarens đủ điều kiện để được khấu trừ các hoá đơn này. Ngoài ra theo hướng dẫn của Công văn 7333 ngày 24/6/2008 của Bộ T2 có nội dung: các hoá đơn xuất do hàng hóa dịch vụ có thật khi mà thanh tra phát hiện doanh nghiệp xuất hoá đơn đã không hoạt động và bỏ trốn thì có thể xem xét được kê khai theo đúng quy định của pháp luật
Về Thông báo số 22222 là thông báo Công ty không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, phải thực hiện hướng dẫn theo Thông tư 95 của Bộ T2. Thông tư này chỉ quy định rằng Công ty không còn hoạt động thì thông báo Công ty không còn hoạt đông, trong biểu mẫu đính kèm này sẽ không được quyền kết luật hoá đơn có hay không có giá trị sử dụng mà sau đó căn cứ vào thông báo không còn hoạt động này thì bên Cục T mới ra quyết định cưỡng chế bằng biện pháp hoá đơn không có giá trị sử dụng. Mẫu thứ 2 này áp dụng theo Thông tư 215 năm 2013 của Bộ T2, tức là quy trình đúng phải thông báo không còn hoạt động tại trụ sở để làm căn cứ ra thông báo cưỡng chế hoá đơn không có giá trị sử dụng chứ không được kết hợp 2 trong 1 như trong Thông báo này. Ở đây đã vi phạm khoản 1 Điều 3 thông tư 215 ngày 31/12/2013 của Bộ T2. Cục thuế có văn bản được quyền ghi bổ sung thêm những câu kết luận đó nhưng Cục T là bên xử lý hành chính không được quyền tự ý làm những gì pháp luật không cho phép
Khi có Thông báo số 22222, Cục Thuế không đăng tải lên hệ thống để chúng tôi kê khai. Khi kê khai hoá đơn này chúng tôi không có thông tin, chúng tôi không thể biết và biết được có Thông báo này. Nếu bên Cục T có đăng tải thông báo thì đối với 2 hoá đơn số 1 và 2 xuất trước thời điểm thông báo, chúng tôi đã kê khai rồi thì không thể buộc chúng tôi chịu hậu quả đổi với hành vi trong tương lai xảy ra tại thời điểm đó.
Việc W1 sau này kê khai bổ sung thì giá trị các hóa đơn như thế nào? Chúng tôi đề nghị quý toà xem xét ký khoản 4 Điều 13 Thông tư 215 năm 2013 trong đó quy định rõ: khi người nộp thuế nộp bổ sung thì nghĩa vụ của cơ quan Thuế phải thông báo các hoá đơn này tiếp tục có giá trị sử dụng và đăng tải lên cổng thông tin. Thuế đã cho W1 kê khai bổ sung kể cả đóng số tiền chậm nộp từ năm 2019 tới năm 2022. Có thông báo cho P2 đăng ký kinh doanh đề nghị khôi phục lại tình trạng pháp lý cho W1. Công văn này của Tổng cục T1 ngày 26/9/2022. Các hoá đơn này đã có giá trị nên phía bên Cục T trả lời không khôi phục lại là không đúng với tính thần tại Thông tư 215.
Quyết định số 1400 của Cục T áp dụng Nghị định số 129 năm 2013 cụ thể khoản 1 Điều 11 cho rằng hành vi vi phạm Sarens là sử dụng hóa đơn không có giá trị sử dụng. Tại thời điểm xử phạt năm 2021 Nghị định này đã hết hiệu lực, Nghị định có hiệu lực là Nghị định 125 năm 2020. Nghị định này đã bỏ hành vi xử phạt hành vi sử dụng hoá đơn không có giá trị sử dụng nữa. Phải áp dụng nguyên tắc có lợi hơn cho người xử phạt thì việc áp dụng là không đúng pháp luật.
Một việc kê khai đóng thuế W1 đã đóng, S1 đóng nhưng vẫn phải chịu 3 khoản phạt đối với một hoá đơn GTGT là không hợp lý. Ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty S3. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện.
Người bảo vệ người bị kiện trình bày:
Về vấn đề W1 đã đóng tiền đối với các hoá đơn này dấn đến các hoá đơn này có giá trị sử dụng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 21 Thông tư 39 thì trường hợp Windcare các hoá đơn này đã bị hủy nên S1 cho rằng có giá trị là không đúng. Công văn số 733 của Bộ T2 đã trích dẫn cũ. Cục thuế đã làm đúng theo mẫu kèm theo Thông tư số 215 về việc Thông báo số 22222. Theo nguyên tắc hành vi xảy ra tại thời điểm nào thì sử dụng nghị định đó việc áp dụng Nghị định 129 tại thời điểm xảy ra vụ việc là phù hợp, nếu áp dụng Nghị định 125 thì sẽ nặng hơn cho S1? Trong trường hợp này thì đối với hành vi của S1 thì áp dụng nghị định nào cũng như nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế số 01 năm 2022 và văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế số 01 ngày 20/6/2022, Công ty W1 không còn hoạt động tại địa chỉ, không có căn cứ để xác định Công ty W1 bỏ trốn. Do đó Công ty S3 yêu cầu áp dụng Công văn số 733 do Bộ T2 ban hành ngày 21/6/2008 để khấu trừ thuế giá trị gia tăng là không có căn cứ. S1 cho rằng hợp đồng với Công ty W1 được ký kết trước thời điểm Cục Thuế Thành phố H xác định các hoá đơn của Công ty W1 không còn giá trị sử dụng nhưng việc thực hiện hợp đồng là có thật trên thực tế nhưng cục trưởng cục Thuế Thành phố H không xem xét các tài liệu, chứng từ thực hiện hợp đồng một cách khách quan ít nhiều ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của công ty S3. Tuy nhiên, Công ty S3 và công ty W1 đã ký biên bản để điều chỉnh giá trị hoá đơn giá trị gia tăng số 0000002 và tiếp tục nhận hoá đơn giá trị gia tăng số 0000004 và xuất sau ngày không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Tại các biên bản thành tra ngày 17/5/2021 chính Công ty S3 có thể hiện nội dung sử dụng hoá đơn mua vào không có giá trị sử dụng có xác nhận theo biên bản thanh tra. Đây là căn cứ S1 biết về việc hoá đơn không có giá trị sử dụng. Án sơ thẩm tuyên xử có căn cứ theo quy định pháp luật. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện: Ngày 29/12/2021, Công ty trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) khởi kiện Cục trưởng Cục thuế Thành phố H đề nghị hủy Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục thuế Thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đây là quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và còn thời hiệu khởi kiện.
Về nội dung:
- [1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H:
Về thẩm quyền ban hành quyết định: Căn cứ Điều 44 Luật Xử lý vi phạm hành chính, điểm b khoản 4 Điều 14 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ thì Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ban hành Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 về việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế là đúng thẩm quyền.
Về trình tự, thủ tục ban hành: Ngày 17/5/2021, Đoàn Thanh tra - Cục T đã lập Biên bản thanh tra tại Công ty S3 (Việt Nam). Ngày 24/5/2021, Cục thuế Thành phố H đã ban hành Kết luận thanh tra thuế số 306/KL-CT. Ngày 24/5/2021, Cục trưởng Cục thuế Thành phố H ban hành Quyết định số 1400/QĐ-CT về việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Căn cứ Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 66, Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ban hành Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 là đúng trình tự thủ tục.
- [2] Về nội dung phần Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H:
- [2.1] Công ty S3 đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với 03 hóa đơn GTGT do Công ty W1 xuất, cụ thể:
- + Hóa đơn GTGT số 0000001 ngày 15/11/2018, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
- + Hóa đơn GTGT số 0000002 ngày 03/6/2019, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
- + Hóa đơn GTGT số 0000004 ngày 28/11/2019, mẫu số 01GTKT0/001, ký hiệu: VN/18E.
Do Công ty W1 không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, vì vậy Cục thuế Thành phố H đã ban hành Thông báo số 22222/TB-CT ngày 06/11/2019 về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, đồng thời thông báo các hóa đơn không còn giá trị sử dụng, cụ thể:
“4. Tình hình sử dụng hóa đơn: Công ty thông báo phát hành hóa đơn gửi Cục Thuế Thành phố H ngày 12/11/2018 (qua mạng iHTKK) nhưng không thực hiện báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế theo quy định. Cụ thể:
Tên ấn chỉ Mẫu số Ký hiệu Từ số-đến số Số lượng Hóa đơn GTGT 01GTKT0/001 VN/18E 0000001-0000200 200 Các hóa đơn trên của Công ty TNHH W1 không còn giá trị sử dụng”.
Xét thấy, căn cứ khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ T2 quy định:
“10. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số HYPERLINK "https://thuvienphapluat.vn/van-ban/thue-phi-le-phi/thong-tu-119-2014-tt-btc-sua-doi-cac-thong-tu-de-cai-cach-don-gian-thu-tuc-hanh-chinh-ve-thue-246608.aspx" \o "Thông tư 119/2014/TT-BTC" \t "_blank" 119/2014/TT-BTC25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC10/10/2014 của Bộ T2) như sau:
Điều 15. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
1. Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ T2 áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.”
Tuy nhiên 03 hóa đơn GTGT nêu trên của Công ty W1 xuất cho Công ty S3 thuộc nhóm hóa đơn đã được Cục thuế thông báo không còn giá trị sử dụng tại Thông báo số 22222/TB-CT, vì vậy không phải là hóa đơn hợp pháp và không đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.
- [2.2] Công ty S3 yêu cầu áp dụng quy định tại Mục 2.2 Công văn 7333/BTC-TCT do Bộ T2 ban hành ngày 24/06/2008 để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo các hóa đơn mà Công ty W1 đã xuất và tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên Mục 2.2 Công văn 7333/BTC-TCT áp dụng trong trường hợp cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của cơ sở kinh doanh bỏ trốn để kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng, tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp mà thời điểm mua hàng hóa, dịch vụ phát sinh trước ngày xác định cơ sở kinh doanh bỏ trốn theo thông báo của cơ quan thuế. Theo Văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế số 01/2022 nộp ngày 20/6/2022 tại phòng Kê khai kế toán thuế và Văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế số 01/2022/QĐ nộp ngày 20/6/2022 tại phòng Kê khai kế toán thuế của Công ty W1 thì Công ty W1 không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng không có cơ sở để xác định Công ty W1 đã bỏ trốn. Do đó, Công ty S3 yêu cầu áp dụng quy định tại Mục 2.2 Công văn 7333/BTC-TCT để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào là không có căn cứ.
- [2.3] Công ty S3 cho rằng thời điểm ký kết hợp đồng là trước thời điểm Cục thuế Thành phố H xác định các hóa đơn của Công ty W1 không còn giá trị sử dụng và việc thực hiện hợp đồng giữa Công ty W1 và Công ty S3 là có thật. Tuy nhiên, thực tế Công ty S3 và Công ty W1 vẫn ký Biên bản số 01/2019 để điều chỉnh hóa đơn GTGT số 0000002 và tiếp tục nhận hóa đơn GTGT số 0000004 do Công ty W1 xuất sau ngày Công ty W1 không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký và đã thống nhất hành vi vi phạm sử dụng hóa đơn mua vào không có giá trị sử dụng trên tại Biên bản thanh tra của Đoàn thanh tra ngày 17/5/2021. Do đó, có cơ sở để xác định Công ty S3 (Việt Nam) đã có hành vi vi phạm “Sử dụng hóa đơn mua vào không có giá trị sử dụng: trong kỳ thanh tra năm 2016, 2018, 2019 doanh nghiệp đã có hành vi sử dụng hóa đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế.”
- [2.4] Ngoài ra, tại phiên toà sơ thẩm, Công ty S3 trình bày và xuất trình chứng cứ chứng minh rằng Công ty W1 đã thực hiện việc nộp đủ số tiền thuế nợ vào ngân sách Nhà nước nên được khôi phục tình trạng pháp lý cho Công ty W1. Do đó Công ty S3 được khấu trừ thuế đối với 03 hoá đơn trên. Hội đồng xét xử xét thấy theo khoản 2 Điều 21 Thông tư 39.2014/TT-BTC quy định về trường hợp cơ quan thuế quản lý trực tiếp thông báo hết giá trị sử dụng của các hóa đơn, 03 hóa đơn GTGT nêu trên của Công ty W1 xuất cho Công ty S3 thuộc nhóm hóa đơn đã được Cục T thông báo không còn giá trị sử dụng tại Thông báo số 22222/TB-CT, do vậy phải bị hủy theo điểm b khoản 2 Điều 29 nêu trên. Vì vậy, việc Công ty W1 kê khai và đóng tiền thuế đối với các hóa đơn này (sau một thời gian dài không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, không kê khai, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn và đóng thuế đối với các hóa đơn này), không làm cho các hóa đơn này trở thành có giá trị sử dụng (vẫn là hóa đơn hết giá trị sử dụng). Bên cạnh đó, tại thời điểm Cục Thuế ban hành quyết định xử phạt đối với công ty S3 thì công ty W1 không kê khai và đóng tiền thuế đối với các hóa đơn này. Trường hợp này, Công ty S3 cần phải khởi kiện dân sự với Công ty W1 để đòi lại tiền vì Công ty W1 đã lừa dối Công ty S3 (không thực hiện hủy hóa đơn theo quy định pháp luật mà lại tiếp tục xuất cho Công ty S3).
- [2.5] Mức xử phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 6 Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013:
Điều 11. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế
Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế thì bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, như sau:
1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế gian lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 10 Nghị định này hoặc vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên khi có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hoá đơn, chứng từ; hóa đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
6. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế bị xử phạt quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, gian lận vào ngân sách Nhà nước là số tiền thuế phải nộp ngân sách Nhà nước, nhưng không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế đối với số thuế trốn, số thuế gian lận.
Số tiền thuế trốn, gian lận là số tiền thuế phải nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản, kết luận kiểm tra, thanh tra.
Do đó, Cục trưởng Cục thuế ban hành quyết định xử phạt đối với Công ty S3 cụ thể: Phạt hành vi trốn thuế giá trị gia tăng (phạt tiền 01 lần tính trên số tiền thuế trốn) 1.005.772.255 đồng; Truy thu thuế 1.255.720.411 đồng là phù hợp với quy định trên.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện đề nghị hủy một phần Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục thuế Thành phố H liên quan đến việc xác định, xử phạt, truy thu thuế đối với hành vi trốn thuế của Công ty S3 đối với việc sử dụng 03 hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia tăng và kê khai chi phí khấu trừ thu nhập chịu thuế doanh nghiệp là có căn cứ, đúng quy định. Bác yêu cầu kháng cáo của công ty S3
[2.6] Đối với yêu cầu khởi kiện: Buộc Cục trưởng Cục thuế Thành phố H ra quyết định hoàn trả số tiền 2.005.053.600 đồng mà Công ty S3 đã thi hành theo Quyết định số 1400/QĐ-CT (bao gồm tiền phạt đối với hành vi trốn thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng và truy thu thuế với số tiền 1.002.526.800 đồng) và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật:
Như phân tích, Cục trưởng Cục thuế ban hành Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 đúng quy định pháp luật, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện trên của Công ty S3 là có căn cứ. Bác yêu cầu kháng cáo của Công ty S3.
- [2.1] Công ty S3 đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với 03 hóa đơn GTGT do Công ty W1 xuất, cụ thể:
- [3] Người khởi kiện kháng cáo nhưng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát cấp cao, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam)
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 1647/2023/HC-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 45 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 11, điểm b khoản 4 Điều 14 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 44, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 66, Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ khoản 4 Điều 103, Điều 108 của Luật Quản lý thuế ngày 29/11/2006 của Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) gồm các yêu cầu sau:
Hủy một phần Quyết định số 1400/QĐ-CT ngày 24/5/2021 của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H liên quan đến việc xác định, xử phạt, truy thu thuế đối với hành vi trốn thuế của Công ty S3 đối với việc sử dụng 03 hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia tăng và kê khai chi phí khấu trừ thu nhập chịu thuế doanh nghiệp sau:
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000001 ngày 15/11/2018 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000002 ngày 03/06/2019 của Công ty TNHH W1;
Hóa đơn số 01GTKT0/001-0000004 ngày 28/11/2019 của Công ty TNHH W1.
Buộc Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ra quyết định hoàn trả số tiền 2.005.053.600 đồng mà Công ty S3 đã thi hành theo Quyết định số 1400/QĐ-CT (bao gồm tiền phạt đối với hành vi trốn thuế giá trị gia tăng là 1.002.526.800 đồng và truy thu thuế với số tiền 1.002.526.800 đồng) và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003356 ngày 03/11/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) gồm các yêu cầu sau:
- Về án phí phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S3 (Việt Nam) phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002410 ngày 03/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
15
Bản án số 345/2024/HC-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 345/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
