Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3449/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/7/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Bà Bùi Thị Phụng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Đức Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2248/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3836/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4896/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lại Thị L, sinh năm: 1983 (có yêu cầu vắng mặt)

Căn cước công dân số: [...] do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/9/2022.

HKTT: Số H đường T, Khu phố B, Phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Khu phố P, Thị trấn H, Huyện N, Tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc N, sinh năm: 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: số H đường T, Khu phố B, Phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo của nguyên đơn bà Lại Thị L thì:

Bà và ông Đỗ Ngọc N quen biết, tìm hiểu nhau từ năm 2007, tự nguyện tiến tới hôn nhân được Ủy ban nhân dân phường H, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 124/2007, quyển số 01 ngày 25/10/2007.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2010 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông N không quan tâm đến vợ con. Tuy ông N có công việc nhưng không đóng góp xây dựng gia đình, thường xuyên ăn nhậu. Bà L đã nhiều lần khuyên ông N thay đổi nhưng ông vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Từ khi sống ly thân, ông N không liên lạc với bà L và không thăm con.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà L và ông N có một con chung tên Đỗ Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 12/9/2010. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Lại Thị L có yêu cầu vắng mặt trong các phiên xét xử vụ án.

Bị đơn ông Đỗ Ngọc N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập. Tuy nhiên, ông N vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày bằng văn bản gửi đến Tòa.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Lại Thị L có yêu cầu vắng mặt trong quá trình Tòa án xét xử vụ án.

Bị đơn ông Đỗ Ngọc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, con vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

Về nội dung: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lại Thị L về việc yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Ngọc N. Về con chung: Bà L và ông N có một con chung tên Đỗ Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 12/9/2010. Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lại Thị L

Án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Lại Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Ngọc N cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đơn khởi kiện của bà L phù hợp quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Lại Thị L có đơn xin vắng mặt, nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Bị đơn ông Đỗ Ngọc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông N.

[2] Về nội dung:Lại Thị L và ông Đỗ Ngọc N kết hôn với nhau do tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường H, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 124/2007, quyển số 01 ngày 25/10/2007 nên là hôn nhân hợp pháp.

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N nhưng Tòa án không nhận được trả lời của ông, chứng tỏ ông không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà L.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử xét, theo lời trình bày của bà L thì sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm đến năm 2010 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông N không quan tâm đến vợ con. Tuy ông N có công việc nhưng không đóng góp xây dựng gia đình, thường xuyên ăn nhậu. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Từ khi sống ly thân, ông N không liên lạc với bà L và không thăm con.

Như vậy, ông N, bà L đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng là phải sống chung, thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình như theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cùng không muốn đoàn tụ gia đình, bà L có yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống là yêu cầu chính đáng phù hợp với Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà L và ông N có một con chung tên Đỗ Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 12/9/2010. Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông Đỗ Ngọc N đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N không có ý kiến gì.

Hiện nay, bà L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trẻ Đỗ Ngọc Minh T có nguyện vọng được sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ và muốn được sống chung với mẹ.

Để bảo đảm điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao trẻ Đỗ Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 12/9/2010 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Lại Thị L không yêu cầu ông Đỗ Ngọc N cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của bà L, sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật và đạo đức nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Luật Phí, lệ phí năm 2015;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lại Thị L:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lại Thị L, sinh năm 1983 ly hôn ông Đỗ Ngọc N, sinh năm 1980

Về con chung: Bà L và ông N có một con chung tên Đỗ Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 12/9/2010. Giao con chung Đỗ Ngọc Minh T cho bà Lại Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có.

2. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn bà Lại Thị L phải chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004757 ngày 20/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008(sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Ủy ban nhân dân phường Hiệp Phú, Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu:VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thanh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3449/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 3449/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger