|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3444/2024/DS-ST Ngày: 30/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Võ Văn Lợi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 1937/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3671/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4738/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1
Trụ sở: Số A đường T, quận H, Tp .
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Kim D (Văn bản ủy quyền số 1048/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/10/2023) (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Trần Đức L, sinh năm 1959
- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1965
Địa chỉ: Số B đường V, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A đường T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đàm Cảnh T, sinh năm 1973
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976
- Ông Đàm Cảnh C, sinh năm 2005 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn N, sinh năm 1992 (Văn bản ủy quyền ngày 15/12/2023) (có mặt).
Địa chỉ: Số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP C1 có bà Trần Thị Kim D trình bày:
Ngày 12/7/2018, Ngân hàng TMCP C1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trần Đức L, bà Phạm Thị B đã ký kết hợp đồng tín dụng số 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL. Theo đó, Ngân hàng TMCP C1 đồng ý cho ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B vay số tiền là 2.990.000.000 (Hai tỷ chín trăm chín mươi triệu) đồng. Lãi suất áp dụng được thỏa thuận là:
+ Lãi suất cho vay: Thời điểm nhận nợ ngày 13/07/2018 áp dụng mức lãi suất là 10,5%/năm kể từ ngày giải ngân
+ Lãi suất phạt quá hạn: Ngoài lãi suất cho vay áp dụng theo lãi suất thỏa thuận cho toàn bộ dư nợ gốc thực tế, ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B đồng ý thanh toán lãi phạt tính trên số dư nợ gốc quá hạn thanh toán của khoản vay với mức bằng 150% lãi suất cho vay.
Lãi suất hiện tại đang áp dụng cho khoản vay của ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B là 10,5%/năm.
Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ khoản vay nêu trên cho ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B.
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà Phạm Thị B đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Thửa đất số 736 Tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 575329, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS06637 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 20/6/2018.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 28/05/2024, ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B còn nợ Ngân hàng TMCP C1 số tiền là 3.988.043.272 đồng chi tiết như sau: Dư nợ gốc: 2.640.350.000 đồng; Nợ lãi: 1.254.883.375 đồng và lãi phạt: 92.809.897 đồng.
Do đó, Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B trả nợ cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 4.046.064.243 đồng chi tiết như sau: Dư nợ gốc: 2.640.350.000 đồng; Nợ lãi: 1.305.013.856 và lãi phạt quá hạn: 100.700.387 đồng. Ngoài ra, ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B tiếp tục thanh toán lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ hoặc thi hành án xong;
Trường hợp ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B không thanh toán khoản nợ nêu trên theo quy định của pháp luật thì yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp/xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp nêu trên của bà Phạm Thị B là bất động sản tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản thế chấp nhưng vẫn không đủ thanh toán phần dư nợ với ngân hàng, yêu cầu ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán phần dư nợ còn thiếu cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông L, bà B đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đàm Cảnh T, bà Nguyễn Thị H có đại diện theo ủy quyền là ông Trần Văn N trình bày:
Giữa vợ chồng ông Đàm Cảnh T, bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị B là chỗ quen biết. Ngày 10/09/2020, tại Văn phòng C2 (địa chỉ: số B đường Đ, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh), bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị B có ký kết với nhau “Hợp đồng đặt cọc” để đảm bảo cho việc giao kết Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 736; tờ bản đồ số: 49; tọa lạc tại: số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 575329, số vào sổ cấp GCN: CS 06637, do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 20/06/2018.
Giá mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, hai bên thỏa thuận là: 5.150.000.000 đồng (năm tỷ một trăm năm mươi triệu đồng). Ông T, bà H đã giao cho bà B nhận tổng số tiền: 4.710.000.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm mười triệu đồng). Việc bà B nhận số tiền nêu trên của ông T, bà H, được bà B xác nhận tại “Giấy nhận tiền bán nhà” ngày 09/10/2020. Sau khi nhận số tiền nêu trên, bà B đã bàn giao nhà đất tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông T, bà H quản lý sử dụng.
Vào thời điểm ông T, bà H với bà B ký kết Hợp đồng đặt cọc với nhau, Giấy chứng nhận số: CL 575329, bà B đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP C1. Bà B cam kết trong thời gian 01 tháng, đến ngày 09/10/2020 sẽ hoàn tất thủ tục giải chấp tài sản, để ký kết Hợp đồng chuyển nhượng với ông T, bà H tại Cơ quan Công chứng có thẩm quyền.
Tuy nhiên, sau đó bà Phạm Thị B đã không thực hiện đúng theo những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Hành vi nhận tiền rồi bỏ trốn của bà Phạm Thị B, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông T, bà H.
Vì vậy, ông T, bà H có Đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc, số công chứng: 10872, quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C2 chứng nhận, ký giữa bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị B ngày 10/09/2020; Buộc bà Phạm Thị B phải trả lại cho ông T, bà H số tiền: 4.710.000.000 (bốn tỷ bảy trăm mười triệu) đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng:
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân thành phố T cần rút kinh nghiệm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 khởi kiện bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo Hợp đồng tín dụng, địa chỉ cư trú ghi trên hợp đồng khi xác lập giao dịch vay tài sản của bị đơn như sau: Bà Phạm Thị B có địa chỉ số A đường T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; ông Trần Đức L địa chỉ số B đường V, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
[2] . Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào kết quả Phiếu yêu cầu xác minh số 5922/PYCXM, ngày 28/11/2023 Công an phường P cho biết : Bà Phạm Thị B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A đường T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh từ 21/12/2011 đến nay. Hiện nay đã bán nhà đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ từ năm 2016 cho đến nay.
Căn cứ vào kết quả Phiếu yêu cầu xác minh số 5923/PYCXM, ngày 28/11/2023 Công an phường E, Quận C cho biết: Ông Trần Đức L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B đường V, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà từ năm 2000 đến nay không thực tế cư trú tại địa phương, về cư trú tại B Đường số E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào kết quả Phiếu yêu cầu xác minh số 6387/PYCXM, ngày 20/12/2023 Công an phường T cho biết: Tại địa chỉ tại B Đường số E, tổ D phường T, thành phố T không có ai tên Trần Đức L cư trú.
Do không tống đạt trực tiếp được, áp dụng Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L theo xác minh cư trú mà Công an cung cấp theo quy định của pháp luật.
Do việc niêm yết không đảm bảo bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L nhận được thông tin về văn bản nên Tòa án thành phố T đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Tòa án đã đăng thông báo trong ba số liên tiếp trên B2, trang Thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phát thanh trong ba ngày liên tiếp trên Đ theo địa chỉ của bà Phạm Thị B là: Số A đường T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ của ông Trần Đức L là số B đường V, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong tất cả các lần Tòa triệu tập, bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L đều vắng mặt không có lý do. Bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L thay đổi địa chỉ, không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngân hàng TMCP C1 và ông Trần Đức L, bà Phạm Thị B đã ký kết hợp đồng cho vay số 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL, ngày 12/7/2018. Theo đó, Ngân hàng TMCP C1 đồng ý cho ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B vay số tiền là 2.990.000.000 (Hai tỷ chín trăm chín mươi triệu) đồng. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ khoản vay nêu trên cho ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B theo Giấy nhận nợ số 01, ngày 13/7/2018.
Thực hiện nghĩa vụ thanh toán của ông L, bà B: Ông L, bà B thanh toán được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 349.650.000 đồng. Đến kỳ thanh toán nợ vào ngày 15/3/2020 ông L, bà B mất khả năng thanh toán.
Như vậy, ông L, bà B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Căn cứ theo điều khoản và điều kiện vay đính kèm Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán và xử lý tài sản bảo đảm khi bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí và các nghĩa vụ khác phát sinh từ Hợp đồng tín dụng.
Vào các ngày 24/01/2020, ngày 15/3/2020, ngày 15/01/2021, Ngân hàng đã có biên bản làm việc với bà Phạm Thị B về việc nợ quá hạn và bà B có viết Giấy Cam kết ngày 06/7/2020, ngày 25/11/2020 trường hợp không trả được nợ thì giao tài sản cho Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ.
Tuy nhiên, bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L vẫn chưa trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 2.640.350.000 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L phải trả số tiền nợ gốc là 2.640.350.000 (Hai tỷ sáu trăm bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) đồng là có căn cứ để chấp nhận.
[4.2] Xét yêu cầu nợ lãi như sau:
Do bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên theo thỏa thuận tại Điều 2.01 về lãi và phí tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL, ngày 12/7/2018 quy định: “Lãi suất cho vay trong hạn của khoản nợ là lãi suất ghi trên từng giấy nhận nợ và có giá trị từ thời điểm giải ngân cho đến khi có sự điều chỉnh lãi suất....”. “Vào ngày xác định lãi suất lãi suất cho vay trong hạn được xác định bằng tổng của lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,5%/năm”. Theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 12/7/2018, lãi suất là 10,5%/năm. Do bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Lãi quá hạn: 150%/năm lãi suất vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ, lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm điều chỉnh khi đến kỳ điều chỉnh lãi suất theo quy định của Ngân hàng là đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay.
Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong hợp đồng. Do đó, tính đến ngày xét xử, số tiền lãi được tính cụ thể như sau:
Tiền nợ gốc là 2.640.350.000đồng;
Lãi cộng dồn: 1.305.013.856 đồng;
Lãi Phạt quá hạn: 100.700.387 đồng.
Do đó, số tiền lãi mà Ngân hàng yêu cầu tính đến ngày xét xử là 1.305.013.856 đồng (Một tỷ ba trăm linh năm triệu không trăm mười ba nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng) là có cơ sở chấp nhận. Kể từ ngày 31/7/2024 nếu ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B không trả thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 12/7/2018 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
- Về lãi phạt: Tại phiên tòa, Ngân hàng trình bày lãi phạt thực chất là lãi quá hạn theo thỏa thuận tại điểm b khoản 2.1 của Hợp đồng cho vay hạn mức số 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 12/7/2018. Do đó, số tiền phạt vi phạm do ông L, bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính đến ngày xét xử là 100.700.387 đồng (Một trăm triệu bảy trăm nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng) là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng và quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ nên chấp nhận.
[4.3] Xét yêu cầu phát mại tài sản như sau:
Để bảo đảm khoản nợ cho khoản vay trên, bà Phạm Thị B đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Thửa đất số 736 Tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số 171/2018 – HĐBĐ/NHCT910-PBL ngày 12/7/2018, được công chứng tại Phòng công chứng số 4 Thành phố H số 020898, quyển số 07/2018.TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H, CN Quận I do bà Phạm Thị B đứng tên chủ sử dụng, chủ sở hữu theo theo Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 575329, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS06637 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 20/6/2018; Văn bản cam kết về tài sản riêng, số công chứng 002185, quyển số 01-SCT/CK,ĐC ngày 12/7/2018.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thể hiện trạng nhà đất không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp.
Như vậy, yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L không thanh toán được nợ của Ngân hàng là có căn cứ để chấp nhận.
Trường hợp bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L thanh toán đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản của bà Phạm Thị B thì Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa thế chấp và trả lại những tài liệu đã nhận của bà Phạm Thị B là Bản chính Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 575329, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS06637 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 20/6/2018.
Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L còn phải thanh toán cho Ngân hàng thì bà Phạm Thị B được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại nhỏ hơn số nợ hợp bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L còn phải thanh toán cho Ngân hàng thì bà Phạm Thị B và ông Trần Đức L có trách nhiệm thanh toán nốt số nợ còn lại.
[4].Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc, số công chứng: 10872, quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C2 chứng nhận, ký giữa bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị B ngày 10/09/2020; Buộc bà Phạm Thị B phải trả lại cho ông T, bà H số tiền: 4.710.000.000 (Bốn tỷ bảy trăm mười triệu) đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 10/09/2020, bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị B có ký kết với nhau “Hợp đồng đặt cọc” để đảm bảo cho việc giao kết Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 736; tờ bản đồ số: 49; tọa lạc tại: Số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 575329, số vào sổ cấp GCN: CS 06637 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 20/06/2018 tại Văn phòng C2 (địa chỉ: Số B đường Đ, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, tài sản này đã được bà B thế chấp cho Ngân hàng TMCP C1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số 171/2018 – HĐBĐ/NHCT910-PBL ngày 12/7/2018, được công chứng tại Phòng công chứng số 4 Thành phố H, theo số 020898, quyển số 07/2018.TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H, CN Q. Bà B cam kết trong thời gian 01 tháng, đến ngày 09/10/2020 sẽ hoàn tất thủ tục giải chấp tài sản, để ký kết Hợp đồng chuyển nhượng với ông T, bà H tại Cơ quan Công chứng có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau đó bà Phạm Thị B đã không thực hiện đúng theo những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng, đến nay Ngân hàng đã yêu cầu phát mại tài sản thế chấp, do đó bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T yêu cầu Hủy hợp đồng đặt cọc là có căn cứ nên chấp nhận.
Ông T, bà H đã giao cho bà B nhận tổng số tiền: 4.710.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười triệu đồng) được bà B xác nhận tại “Giấy nhận tiền bán nhà” ngày 09/10/2020. Sau khi nhận số tiền nêu trên, bà B đã bàn giao nhà đất tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh cho ông T, bà H quản lý sử dụng.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thể hiện: Chủ thể đang quản lý sử dụng là ông Đàm Cảnh T bà Nguyễn Thị H. Những người đang thực tế cư trú: ông Đàm Cảnh T bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh C.
Tòa án đã thực hiện việc giám định chữ ký của bà Phạm Thị B theo Quyết định trưng cầu giám định số 195/2024/QĐ_TCGĐ ngày 10/01/2024.
Tại bản kết luận giám định số 1449/KLHS ngày 07 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H đã kết luận:
Chữ ký, chữ viết họ và tên Phạm Thị B dưới mục “Bên A” (Bên nhận cọc) trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết họ tên Phạm Thị B dưới mục “Người làm giấy” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 do cùng một người ký, viết ra.
Như vậy, có cơ sở xác định bà Phạm Thị B nhận số tiền 4.710.000.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm mười triệu đồng) từ bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T buộc bà Phạm Thị B phải thành toán số tiền 4.710.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười triệu đồng) cho bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T.
- Về Chi phí tố tụng và chi phí khác:
Ngân hàng đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên các bị đơn ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định là 10.000.000 đồng nên bị đơn bà Phạm Thị B có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho bà H và ông T theo quy định tại khoản 4 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chi phí đăng thông báo giải quyết vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng người yêu cầu phải chịu. Chi phí này đã thực hiện xong.
- Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Án phí dân sự sơ bị đơn phải chịu trên số tiền thanh toán cho nguyên đơn là 112.046.064 đồng. Ngân hàng không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 53.960.882 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0000689 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho người liên quan với số tiền là 112.710.000 đồng. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.655.000 đồng theo biên lai thu số 0000085 ngày 25/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 328, 423, 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Khoản 1 Điều 4, Khoản 5 Điều 15, Khoản 2 Điều 23, Khoản 1,2 Điều 56, Điều 60, Điều 61 Nghị định 163/2012/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm;
- - Căn cứ Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 về việc:
Buộc ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B phải trả số tiền nợ gốc: 2.640.350.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng); Nợ lãi tính đến ngày 30/7/2024 là: 1.305.013.856 đồng (Một tỷ ba trăm linh năm triệu không trăm mười ba nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng) và lãi phạt quá hạn: 100.700.387 đồng (Một trăm triệu bảy trăm nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng). Tổng cộng là 4.046.064.243 đồng (Bốn tỷ không trăm bốn mươi sáu triệu không trăm sáu mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi ba đồng).
Kể từ ngày 31/7/2024, ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay 171/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 12/7/2018 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/7/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP C1 thì lãi suất mà ông L, bà B phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP C1 cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP C1. Việc trả tiền được thực hiện đủ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B thanh toán đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản của bà Phạm Thị B thì Ngân hàng TMCP C1 có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn đã nhận của bà Phạm Thị B.
Trường hợp ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP C1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 736 Tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại địa chỉ số B đường Đ, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tì sản gắn liền với đất số CL 575329, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS06637 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 20/6/2018;
Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mãi lớn hơn số nợ ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B còn phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C1 thì bà Phạm Thị B được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại nhỏ hơn số nợ thì ông L, bà B1 còn phải thanh toán cho ngân hàng TMCP C1 thì ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B có trách nhiệm thanh toán nốt số nợ còn lại.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T về việc hủy hợp đồng đặt cọc và trả lại tiền đặt cọc:
2.1. Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc, số công chứng: 10872, quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/09/2020 tại Văn phòng C2, địa chỉ: Số B đường Đ, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Buộc bà Phạm Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T số tiền đặt cọc 4.710.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười triệu đồng). Việc trả tiền được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Phạm Thị B chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì hàng tháng, bà Phạm Thị B còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mức lãi suất được xác định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về chi phí tố tụng:
Ngân hàng đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên các bị đơn ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho Ngân hàng TMCP C1 theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định là 10.000.000 đồng nên các bị đơn ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho bà H và ông T theo quy định tại khoản 4 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chi phí đăng thông báo giải quyết vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng người yêu cầu phải chịu. Chi phí này đã thực hiện xong.
4 . Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu trên số tiền thanh toán cho nguyên đơn là 112.046.064 đồng. Ngân hàng TMCP C1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 53.960.882 đồng theo biên lai thu số 0000689 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho người liên quan với số tiền là 112.710.000 đồng. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.655.000 đồng theo biên lai thu số 0000085 ngày 25/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP C1, bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Cảnh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trần Đức L và bà Phạm Thị B vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
12
Bản án số 3444/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 3444/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
