|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 344/2024/HS-ST Ngày: 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thanh Nhã |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Tạ Quốc Hùng |
| Bà Phạm Thị Mai Hồng |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Thị Thái H, sinh năm 2002; giới tính: nữ; ĐKHKTT: tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Cao Văn T và bà Trần Thị H1; có chồng và có 01 con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Bị hại: Ông Ri Kheng C (Chu Dĩ Q), sinh năm 1946; nơi cư trú: 163 Lorilee Cres K, N2N2J6 Canada; quốc tịch: Canada; số hộ chiếu: 0A244273; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 03/2020, Cao Thị Thái H ra thành phố Hà Nội học làm nghề sửa móng chân, móng tay. H thuê nhà ở cùng với chị Nguyễn Thị Thúy Á (sinh năm 2001; thường trú tại thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) tại số nhà A, ngõ A, đường T, thị trấn T, huyện G, Hà Nội. Trong thời gian sinh sống tại Hà Nội, H sử dụng số điện thoại 0865.295.xxx đăng ký lập tài khoản Zalo “Mèo con” và tài khoản Facebook lấy tên “Thúy Ánh N” kết bạn làm quen với ông Chu Dĩ Q (Ri K). Do cần tiền để chi tiêu nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông Q. H giới thiệu với ông Q tên là Nguyễn Thị Thúy Á, sinh năm 2001; hiện đang là sinh viên trường Cao đẳng D. H lấy Căn cước công dân của chị Á để ở phòng trọ, sử dụng ứng dụng Photoshop để chỉnh sửa số và thay ảnh của H vào Căn cước công dân của chị Á. Sau đó, H gửi qua tin nhắn Zalo từ tài khoản “Mèo con” cho ông Q hình ảnh Căn cước công dân đã được chỉnh sửa cùng số điện thoại 0865.295.xxx và địa chỉ sinh sống tại số nhà A, đường N, xã Đ, huyện G, Hà Nội để liên lạc với ông Q. Trong thời gian quen biết, ông Q có tình cảm với H nên hẹn tháng 5/2023 về Việt Nam gặp H để tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. H thường xuyên nhắn tin, nói chuyện với ông Q về cuộc sống khó khăn cần tiền học, thuê nhà, mua xe máy đi học và yêu cầu ông Q chuyển tiền hỗ trợ cuộc sống cho H. Do tin tưởng H có tình cảm với mình nên ông Q đã gửi tiền cho H qua Công ty B và Công ty V1 tại Canada (thông qua Công ty K có địa chỉ trụ sở tại số nhà D, đường M, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh).
Từ ngày 10/5/2022 đến ngày 06/7/2022, ông Q đã gửi cho H tổng số tiền Canada là 3.290 CAD (tương đương 50.506.063 đồng). Công ty K đã liên lạc với H để chuyển tiền cho H theo địa chỉ tại số nhà A, đường N, xã Đ, huyện G, Hà Nội. Khi nhận tiền, H ký tên vào Biên lai giao tiền của Công ty K với thông tin người nhận tiền “Nguyễn Thị Thúy Á”. Cụ thể:
- - Ngày 10/5/2022, H nhận 1.000 CAD (tương đương 18.025.100 đồng).
- - Ngày 19/5/2022, H nhận 290 CAD (tương đương 5.232.029 đồng).
- - Ngày 23/5/2022, H nhận 500 CAD (tương đương 9.020.740 đồng).
- - Ngày 06/6/2022, H nhận 200 CAD (tương đương 3.646.138 đồng).
- - Ngày 14/6/2022, H nhận 500 CAD (tương đương 9.195.580 đồng).
- - Ngày 30/6/2022, H nhận 300 CAD (tương đương 5.386.476 đồng).
Đến tháng 07/2022, H chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sống và thuê nhà ở tại số B, đường L, phường F, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. H thông báo cho ông Q biết đã thay đổi số điện thoại nhận tiền là 0852.199.xxx và địa chỉ nhận tiền là số nhà F, đường L, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh để ông Q tiếp tục gửi tiền cho H. Từ ngày 11/7/2022 đến ngày 31/10/2022, ông Q gửi cho H tổng số tiền là 4.550 CAD (tương đương 90.318.944 đồng) thông qua Công ty K. Cụ thể:
- - Ngày 06/7/2022, H nhận 500 CAD (tương đương 8.977.460 đồng).
- - Ngày 11/7/2022, H nhận 600 CAD (tương đương 10.663.956 đồng).
- - Ngày 25/7/2022, H nhận 200 CAD (tương đương 3.608.020 đồng).
- - Ngày 04/8/2022, H nhận 600 CAD (tương đương 10.804.476 đồng).
- - Ngày 15/8/2022, H nhận 800 CAD (tương đương 14.388.200 đồng).
- - Ngày 25/8/2022, H nhận 300 CAD (tương đương 5.369.493 đồng).
- - Ngày 31/8/2022, H nhận 650 CAD (tương đương 11.633.901 đồng).
- - Ngày 12/9/2022, H nhận 1.000 CAD (tương đương 17.898.310 đồng).
- - Ngày 31/10/2022, H nhận 400 CAD (tương đương 6.975.128 đồng).
Từ ngày 10/5/2022 đến ngày 31/10/2022, ông Q đã gửi cho H tổng số tiền là 7.840 CAD (tương đương 140.825.007 đồng, quy đổi theo tỷ giá do Ngân hàng N1, chi nhánh H2 cung cấp) thông qua Công ty K. Sau khi nhận được tiền của ông Q gửi, thì H đã đến các cửa hàng vàng (không xác định được địa chỉ) để đổi từ tiền CAD (tiền Canada) sang tiền Việt Nam và sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến tháng 3/2023, ông Q thông báo sẽ về Việt Nam gặp H thì H đã chặn số điện thoại, hủy kết bạn trên Zalo với ông Q. Do không liên lạc được với H và biết bị lừa nên ông Q đã gửi đơn tố giác H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H.
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Cao Thị Thái H đã khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp số tiền 180.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Đối với hành vi làm giả Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thúy Á của Cao Thị Thái H đã vi phạm điểm a, khoản 4, Điều 10 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về lĩnh vực ANTT và TTATXH. Do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi trên đã hết nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, ông Chu Dĩ Q còn tố giác đối tượng tự xưng là “Thầy Ajarn Jae” ở số nhà G, phố B, thành phố Hà Nội có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Q qua việc sử dụng bùa ngải để tìm kiếm chị Trần Thị Bích V (là người ông Q đã quen trước đó nhưng bị mất liên lạc). Từ ngày 14/6/2021 đến ngày 05/7/2021, ông Q thông qua Công ty K đã 08 lần chuyển tiền đến cho “Thầy Ajarn J” qua người nhận là Đặng Thị T1 (trú tại số nhà A, đường T, quận H, Hà Nội có số điện thoại 0368.673.xxx và tài khoản số 19037140656013 tại Ngân hàng T2) với tổng số tiền là 9.059 CAD (tương đương 151.253.990 đồng). Kết quả điều tra xác định: Chị Đặng Thị T1 không phải là người nhận tiền của ông Q chuyển. Tháng 6/2020, chị T1 mở tài khoản số 19037140656013 tại Ngân hàng T2 nhưng sau đó đã bán cho đối tượng (không xác định được nhân thân). Hành vi mua bán tài khoản của chị T1 đã vi phạm điểm a, khoản 5, Điều 26 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019, nhưng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng “Thầy Ajarn J”, Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng chưa xác định lai lịch. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết nên ngày 31/3/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với đối tượng tự xưng là “Thầy Ajarn J” để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Ông Chu Dĩ Q yêu cầu bị cáo Cao Thị Thái H bồi thường số tiền 140.825.007 đồng và đề nghị xử lý bị cáo H theo quy định của pháp luật. Hiện bị cáo H đã nộp 180.000.000 đồng để bồi thường cho ông Q.
Tại Bản cáo trạng số 165/CT-VKSHN–P2 ngày 23/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Cao Thị Thái H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết.
- - Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Cao Thị Thái H từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Buộc bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt của ông Q.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự.
Lời khai của bị cáo tại tiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận:
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Cao Thị Thái H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng mới đủ sức giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tiền của bị hại nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; đã tự nguyện bồi thường và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có nhân thân tốt và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tổng thể tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Hộ đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; đã tự nguyện trả lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều mang tính chất ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và đang nuôi con nhỏ, tại phiên tòa đã ăn năn hối cải. Vì vậy, việc cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với nội dung tố giác đối tượng tự xưng là “Thầy Ajarn J”. Từ ngày 14/6/2021 đến ngày 05/7/2021, ông Q thông qua Công ty K đã 08 lần chuyển tiền đến cho “Thầy Ajarn J” qua người nhận đứng tên Đặng Thị T1 tổng số tiền là 9.059 CAD tương đương 151.253.990 đồng. Kết quả điều tra xác định tháng 6/2020, chị T1 mở tài khoản số 19037140656013 tại Ngân hàng T2 nhưng sau đó đã bán cho đối tượng (không xác định được nhân thân), chị T1 không phải là người nhận tiền của ông Q. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự là phù hợp. Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng chưa xác định lai lịch “Thầy Ajarn Jae”, do thời hạn điều tra vụ án đã hết nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với đối tượng tự xưng là “Thầy Ajarn J” để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
[3] Về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo.
Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông R Kheng Chao trị giá 140.825.007 đồng; bị cáo tự nguyện bồi thường bị hại số tiền 180.000.000 đồng nên được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo tự nguyện bồi thường trước khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Cao Thị Thái H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Cao Thị Thái H 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận bị cáo Cao Thị Thái H tự nguyện bồi thường ông Ri Kheng C số tiền 180.000.000 đồng. 180.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội (Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 16/4/2024). Ông Ri Kheng C có quyền nhận số tiền trên.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 344/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 344/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Thái Hà phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
