|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 344/2024/DS-PT Ngày: 16 – 12 – 2024 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hồng, bà Lưu Thị Thu Hường.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án;
Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Bà Lê Thị Bích T - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 334/2024/TLPT-DS ngày 30/10/2024 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 319/2024/QĐ - PT ngày 04/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 327/2024/QĐ-PT ngày 25/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1970 và ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức V – Luật sư văn phòng L1, địa chỉ: Số B G, TDP F, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt;
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số nhà D, TDP H, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950. Địa chỉ: TDP F, TT. P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt;
- Hợp tác xã N2.
Đại diện theo pháp luật: Ông Y Lam N, sinh năm 1957 – Chức vụ: Chủ nhiệm hợp tác xã N2. Địa chỉ: Buôn Ea Yông B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt;
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Năm 2008 vợ chồng tôi và bà Nguyễn Thị L có thỏa thuận sang nhượng thửa đất tại hồ ông T3, thuộc khu vực hồ E, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Nguồn gốc đất là bà L nhận chuyển nhượng của ông Trương Quang T4 (theo Hợp đồng kinh tế số 036, ngày 28 tháng 9 năm 1993 được ký kết giữa Hợp tác xã N2, xã E với ông Trương Quang T4). Diện tích đất là hơn 4.000m² đất trồng cây cà phê và 1.100m² là đất trồng cây keo lá tràm. Tổng số tiền sang nhượng thửa đất này là 78.000.000 đồng, tôi đã giao đủ số tiền này cho bà L. Thửa đất có tứ cận tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đất ông Ba R; phía Đông giáp đất ông H, phía Tây giáp đường đi; phía Nam giáp đường đi.
Khi hai bên mua bán có viết giấy tay, có chữ ký hai bên, khi bàn giao thực địa thửa đất chính ông T2 con bà L là người ra chỉ ranh giới thửa đất. Trong giấy viết tay có xác nhận của Ban tự quản và Ban Q ngày 06/5/2008. Sau khi mua bán tôi giao tiền, bà L giao toàn bộ thửa đất cho tôi quản lý sử dụng ổn định và không tranh chấp với ai đối với phần đất này. Hiện tại thửa đất của tôi và những hộ xung quanh trong khu vực này chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo số liệu đo đạc mới thửa đất tôi đang sử dụng thì thửa đất có diện tích là 5.100m². Lý do, trong giấy sang nhượng và xác nhận của Hợp tác xã chỉ ghi 4000m² là do phần đất đang canh tác tính theo số lượng cây cà phê mà ông T4 đã trồng trước đó. Nhưng thực tế phần đất ông Trương Quang T4 chuyển nhượng cho bà L theo Hợp đồng kinh tế của Hợp tác xã có danh sách thống kê kèm theo thì phần đất ông Trương Quang T4 gồm có 02 thửa: (Thửa số 194, diện tích 1070m² và thửa đất số 236, diện tích là 3980m², cùng tờ bản đồ 09 thuộc Hợp đồng liên kết cà phê trên địa bàn Hợp tác xã E).
Đến năm 2014 ông Phạm Văn T2 là con trai ruột bà L cho rằng phần đất chúng tôi đang sử dụng là 1.100m² đất trồng cây keo mà trước đó bà L đã bán cho tôi là của ông T2 nên đã chiếm dụng lấy lại, đến năm 2016 ông T2 khai thác cây keo bán số tiền là 18.000.000 đồng và hiện tại ông T2 đã trồng cây keo khác trên diện tích 1.100m². Tiếp đến ngày 13/9/2022 ông T2 thuê người tự ý vào lấn thêm gần 1,7m chiều ngang, chiều dài trên phần diện tích 4000m² đất trồng cà phê; chặt phá hàng rào và một số cây trồng khác trên phần đất tôi đang canh tác, diện tích lấn chiếm trên phần đất này khoảng 63m², đồng thời ông T2 đã chặt phá của chúng tôi các tài sản sau:
- + 14 Cây mít (trị giá 150.000đồng/cây x 14 cây = 210.000 đồng).
- + 16 Trụ Bê tông (trị giá 100.000đồng/cây x 16 trụ = 1.600.000 đồng).
- + 04 cây Bồ kết (trị giá 100.000 đồng/cây x 04 cây = 400.000 đồng).
- + 92m dây thép gai rào bờ rào (trị giá 500.000 đồng).
Tổng tài sản thiệt hại là 22.600.000 đồng. Trong đó 4.600.000 đồng ông T2 đã chặt phá các cây trồng, tài sản trên phần đất và 18.000.000 đồng là tiền khai thác bán keo.
Do đó, chúng tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng tôi tổng diện tích đất lấn chiếm hai lần là 1.163m² tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và dỡ bỏ hàng rào, cây trồng trên đất; buộc ông Phạm Văn T2 phải bồi thường cho chúng tôi giá trị 14 cây mít trồng năm 2020; 16 trụ bê tông cao 1.5m; 04 cây bồ kết trồng năm 2020; 92m dây thép gai; 90 cây keo ông T2 đã khai thác, sử dụng từ năm 2016. Tổng giá trị các tài sản trên là 22.600.000 đồng.
2. Bị đơn ông Phạm Văn T2 trình bày: Vào năm 1999, mẹ tôi là Nguyễn Thị L có nhận chuyển nhượng của ông Trương Quang T4 toàn bộ diện tích đất theo hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT ngày 28/9/1993 (do ông T4 đã ký trước đó với Hợp tác xã N2). Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì tôi và mẹ tôi cùng sử dụng đất và có sang lấp, khai hoang mở rộng thêm diện tích khoảng hơn 1.000m² để trồng keo, nuôi ong.
Đến năm 1999, mẹ tôi chuyển nhượng toàn bộ diện tích 4.000m² đất trồng cà phê cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T1. Đối với diện tích đất khai hoang mở rộng thêm khoảng hơn 1.000m² thì tôi canh tác, sử dụng cho đến nay. Sau khi mẹ tôi chuyển nhượng đất cho bà Á, ông T1, để thuận tiện cho việc anh tác đất tôi có tự mở lối đi trên phần đất do tôi quản lý sử dụng.
Năm 2014, bà Á, ông T1 làm đơn khiếu nại ra ủy ban xã về việc tôi lấn chiếm đất. Sau khi UBND xã giải quyết thì tôi và bà Á, ông T1 vẫn tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất của mình. Đến năm 2022, bà Á, ông T1 tiếp tục dựng hàng rào trụ bê tông, kéo dây kẽm sang phần lối đi tôi đã tự mở. Khi tôi phát hiện thì tôi đã di dời trụ bê tông, dây kẽm gai và mấy cây mít mới trồng sang phần đất của bà Á, ông T1 và báo cho bà Á, ông T1 biết.
Sau đó, bà Á, ông T1 tiếp tục khiếu nại ra Ủy ban nhân dân xã E, khi Ủy ban nhân dân xã giải quyết thì bà Á, ông T1 không ký biên bản.
Nay bà Á, ông T1 khởi kiện yêu cầu tôi phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng bà Á tổng diện tích đất lấn chiếm hai lần là là 1.163m² tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và dỡ bỏ hàng rào, cây trồng trên đất; buộc tôi phải bồi thường cho bà Á, ông T1 giá trị 14 cây mít trồng năm 2020; 16 trụ bê tông cao 1.5m; 04 cây bồ kết trồng năm 2020; 92m dây thép gai; 90 cây keo ông T2 đã khai thác, sử dụng từ năm 2016. Tổng giá trị các tài sản trên là 22.600.000 đồng thì tôi không đồng ý. Bởi lẽ, tôi không lấn đất của bà Á, ông T1, không chặt phá tài sản của bà Á, ông T1. Việc bà Á, ông T1 cho rằng tôi có khai thác keo thì keo do tôi trồng trên phần đất tôi quản lý, sử dụng nên tôi khai thác.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Vào năm 1999, tôi có nhận chuyển nhượng của ông Trương Quang T4 toàn bộ diện tích đất theo hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT ngày 28/9/1993 (do ông T4 đã ký trước đó với Hợp tác xã N2). Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì tôi và con trai là Phạm Văn T2 cùng sử dụng đất và có khai hoang thêm diện tích khoảng hơn 1.000m² ở phần đuôi diện tích đất tôi nhận chuyển nhượng của ông T4. Đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông T4 thì trên đất đã trồng cây cà phê, còn diện tích khai hoang thêm tôi trồng cây tràm.
Đến năm 2008, tôi chuyển nhượng toàn bộ diện tích 4.000m² đất trồng cà phê cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T1, đối với diện tích đất khai hoang thêm thì tôi cho ông T2 canh tác, sử dụng cho đến nay.
Hiện bà Nguyễn Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 diện tích đất lấn chiếm là 1.163m² tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và dỡ bỏ hàng rào, cây trồng trên đất. Buộc ông Phạm Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 với số tiền là 22.600.000 đồng thì tôi không đồng ý, bởi tôi chỉ bán cho ông T1, bà Á 4.000m² đất trồng cây cà phê, diện tích đất còn lại là do khai hoang, mở rộng thêm và hiện tôi đã cho ông T2 quản lý, sử dụng. Từ năm 2008, bà Á, ông T1 đã nhận đủ 4.000m² đất trồng cây cà phê và cũng không có ý kiến gì.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hợp tác xã N2 trình bày: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất thuộc quản lý của Hợp tác xã N2. Năm 1993, ông Trương Quang T4 có ký hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT với Hợp tác xã N2 thửa đất 194 và thửa đất 236 trồng cà phê. Đến 1999, ông Trương Quang T4 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất theo hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT ngày 28/9/1993 cho bà Nguyễn Thị L, khi chuyển nhượng được sự đồng ý của Ban quản lý hợp tác xã, có xác nhận của Chủ nhiệm hợp tác xã thời điểm bấy giờ là ông Y Jhat K.
Đến năm 2006, tôi làm chủ nhiệm hợp tác xã. Năm 2008, bà L chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á diện tích đất trồng cà phê là 4.000m², có xin xác nhận của hợp tác xã, thời điểm đó tôi là Chủ nhiệm hợp tác xã nên có ký xác nhận. Đối với diện tích đất còn lại là thửa đất 194, diện tích khoảng 1.000m² do ông T2 (con bà L) đã trồng keo và nuôi ong thì hợp tác xã không cho phép chuyển nhượng vì diện tích đất này nằm sát chân đập thủy lợi. Lý do hợp tác xã không cho phép chuyển nhượng là vì đất nằm sát chân đập, nếu cải tạo đất thì sẽ ảnh hưởng đến chân đập thủy lợi. Sau đó thì ông T2 vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất trồng keo; bà Á, ông T1 sử dụng diện tích đất trồng cà phê. Hiện bà Á, ông T1 khởi kiện tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1, khoản 10 Điều 12, Điều 166, Điều 170, Điều 202, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 về việc buộc ông Phạm Văn T2 phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 diện tích đất lấn chiếm là 1.163m² tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; dỡ bỏ hàng rào, cây trồng trên đất và yêu cầu ông Phạm Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 với số tiền là 22.600.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 29/8/2024, bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và được nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1, nhận thấy:
[2.1] Thửa số 546, tờ bản đồ số 81 (trước đây là thửa số 194, tờ bản đồ số 9) và thửa số 568, tờ bản đồ số 81 (trước đây là thửa số 236, tờ bản đồ số 9) tại buôn Ea Yông B có nguồn gốc trước đây do ông Trương Quang T4 ký hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT với Hợp tác xã N2.
Tại hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT ngày 28/9/1993 giữa Hợp tác xã N2 và ông Trương Quang T4 thể hiện: Diện tích đất Hợp tác xã giao cho ông T4, lô số 1 diện tích 3.000m²; lô số 2 diện tích 887 m², tổng diện tích 3887m², có cạnh dài 115m x rộng 34,54m. Tại trích lục địa chính thửa đất số 236, tờ bản đồ số 9 thể hiện kích thước thực tế thửa đất có chiều dài các cạnh dài lần lượt 114,03m và 113,83m, chiều rộng các cạnh lần lượt là 36,19m và 31,89m. Như vậy, diện tích đất bà Nguyễn Thị L nhận chuyển nhượng từ ông T4, sau đó bà Á, ông T1 nhận chuyển nhượng từ bà L. Tại cấp phúc thẩm, sau khi so sánh, đối chiếu giữa Trích lục địa chính thửa đất và Hợp đồng kinh tế số 036/HĐKT của Hợp tác xã N2 là không chênh lệch quá lớn, có sự tương đồng về kích thước, diện tích thực tế.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Hợp tác xã N2 xác nhận năm 2008, bà L chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á diện tích đất trồng cà phê là 4.000m², có xin xác nhận của hợp tác xã, đối với diện tích đất còn lại là thửa đất 194, diện tích khoảng 1.000m² do ông T2 đã trồng keo và nuôi ong thì Hợp tác xã không cho phép chuyển nhượng vì đất nằm sát chân đập, nếu cải tạo đất thì sẽ ảnh hưởng đến chân đập thủy lợi. Sau đó thì ông T2 vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất trồng keo; bà Á, ông T1 sử dụng diện tích đất trồng cà phê. Tại biên bản xác minh ngày 11/4/2024 tại UBND xã E xác định bà Á, ông T1 sử dụng thửa đất số 568, tờ bản đồ số 81 (trước đây là thửa số 236, tờ bản đồ số 9), diện tích đo đạc thực tế 3.839,5m²; Ông Phạm Văn T2 hiện đang sử dụng thửa đất số 546, tờ bản đồ số 81 (trước đây là thửa số 194, tờ bản đồ số 9), diện tích đo đạc thực tế 1.163,5m²; các thửa đất tọa lạc tại buôn E B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Mặt khác, các đương sự đều xác định tại thời điểm bà L chuyển nhượng đất cho nguyên đơn thì thửa số 546, tờ bản đồ số 81 đã trồng cây keo. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho phần trình bày của mình cũng như không được bà Lũy thừa N1 về việc hai bên có thỏa thuận chuyển nhượng cả diện tích đất trồng keo là thửa đất số 546, tờ bản đồ số 81.
[3] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại diện tích lấn chiếm thửa số 546, tờ bản đồ số 81 (trước đây là thửa số 194, tờ bản đồ số 9) và 63m² đất thuộc thửa số 568, tờ bản đồ số 81 và không chấp nhận đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của nguyên đơn là có căn cứ. Do dó, xét kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T1.
Giữ nguyên Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006023 ngày 10/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Duy Phương |
Bản án số 344/2024/DS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 344/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
