Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 344/2024/HS-ST

Ngày 26 – 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

Bà Đỗ Thị Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng O - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 340/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lại Đức H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 15/6/1984, tại Thanh Hóa; CCCD số [...]; Nơi thường trú: Số nhà E H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số nhà D Bà T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lại Khắc L (đã chết); con bà Đỗ Thị N; Gia đình có 04 anh chị em bị cáo là con út; Vợ là Mai Thùy D và 02 con lớn sinh 2019, nhỏ sinh 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024, chuyển tạm giam ngày 18/5/2024; đến ngày 11/6/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 18/5/1998, tại Thanh Hóa; Số C; Nơi ĐKHKTT: S (nay là Lô 165 CC5 MBQH 121), phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Lô A, CC5, MBH A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu C và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024, đến ngày 18/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Họ và tên: Trần Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 13/6/1996, tại Thanh Hóa; số CCCD: [...]; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q và bà Trương Thị H1; Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 03 chị em; Vợ là Nguyễn Thị Thu T2, có 3 con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự; Tiền án: không. Chức vụ, đảng phái: Đảng viên Đ2, sinh hoạt tại Chi bộ thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 112-QĐ/UBKTHU ngày 20/8/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy H4.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024, đến ngày 18/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị N1, sinh năm 1994; Địa chỉ: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
  2. Chị Lại Thị T3, sinh năm 1989; Địa chỉ: SN E, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  3. Chị Lê Thị H2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Phố C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Chị Lê Thị Ú, sinh năm 1993; Địa chỉ: Phố C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1984; Địa chỉ: S L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  6. Chị Mai Thị T4, sinh năm 1979; ĐT: 0978.701.xxx Địa chỉ: Số nhà B Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  7. Chị Lê Thị T5, sinh năm 1990; ĐT: 0889.802.xxx Địa chỉ: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
  8. Chị Trần Thị T6, sinh năm 1980; ĐT: 0848.974.xxx Địa chỉ: SN E, thôn I, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
  9. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 Địa chỉ: Thôn D xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
  10. Anh Đỗ Xuân Q2, sinh năm 1982; ĐT: 0949.025.xxx Địa chỉ: Số A, N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích vụ lợi và không có việc làm ổn định nên từ tháng 01/2023 đến ngày 09/5/2024, Lại Đức H cùng với Nguyễn Hữu T và Trần Văn Đ thực hiện hành vi cho một số cá nhân trên địa bàn thành phố T vay tiền với lãi suất từ 2889 đồng đến 5111 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương gấp 5,27 đến 9,33 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Trong đó, Lại Đức H là đối tượng cầm đầu, cung cấp tiền cho khách vay, lấy danh nghĩa Công ty S1, có địa chỉ 197 Bà T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để giao dịch, Trần Văn Đ và Nguyễn Hữu T có vai trò đồng phạm giúp sức, hướng dẫn viết giấy vay, giao tiền gốc vay, thu tiền gốc, lãi và đôn đốc khách trả tiền cho Lại Đức H. Trong đó, Nguyễn Hữu T tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng Lại Đức H trong thời gian từ tháng 01/2023 đến hết tháng 11/2023, Trần Văn Đ tham gia làm cùng H từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 09/5/2024 như sau:

1. Ngày 06/1/2023, Lại Đức H cho chị Lê Thị Ú, sinh năm 1993, trú tại phố C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 20.000.000 với lãi suất 4000 đồng/01 triệu đồng/ 01 ngày, mỗi tháng H thu 2.400.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 05/5/2023 H thu 04 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 9.600.000 đồng thì chị Ú xin dừng trả lãi để trả dần gốc và được H đồng ý. Tính đến ngày 09/5/2024, chị Ú chưa trả tiền gốc cho H.

Đến ngày 05/12/2023, H tiếp tục cho chị Ú vay thêm số tiền 8.000.000 đồng cộng dồn với số tiền gốc đang nợ lại thành 28.000.000 đồng và thu lãi mỗi tháng 3.360.000 đồng. H thu được 4 tháng tiền lãi (tính đến ngày 05/4/2024) với tổng số tiền là 13.440.000 đồng. Đến thời điểm Cơ quan Công an phát hiện ngăn chặn, tiền lãi đến ngày 09/5/2024 chị Ú chưa đóng. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị Ú là 13.440.000 đồng, số tiền lãi nhằm thu là 16.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định (không quá 20%/năm) là 1.871.780 đồng, số tiền thu lời bất chính là 11.568.219 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 14.928.219 đồng. Khoản vay này chị Ú chưa trả tiền gốc cho H.

Đối với khách vay này Trần Văn Đ tham gia thu 04 tháng tiền lãi từ tháng 01/2024 đến ngày 09/5/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 11.568.219 đồng và số tiền nhằm thu lời bất chính là 14.928.219 đồng.

2. Ngày 25/1/2023, Lại Đức H cho chị Lê Thị H2, sinh năm 1983, trú tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 4000 đồng/triệu/ngày, không cắt trước tiền lãi tháng đầu. Mỗi tháng H thu từ chị H2 số tiền lãi là 1.200.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024, chị H2 chưa trả lại tiền gốc vay cho H và đã trả tiền lãi đến hết ngày 24/4/2024. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị H2 là 18.000.000 đồng, số tiền lãi nhằm thu là 18.560.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 2.498.630 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 15.501.370 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 16.061.370 đồng.Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 10 tháng tiền lãi từ tháng 02/2023 đến tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 10.334.247 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 12/2023 đến đến ngày 09/5/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 5.167.123 đồng và số tiền nhằm thu lời bất chính là 5.727.123 đồng.

3. Ngày 27/6/2023, Lại Đức H cho chị Lê Thị T5, sinh năm 1980, trú tại Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 4000 đồng/triệu/ngày. Mỗi tháng H thu từ chị T5 số tiền lãi là 1.800.000 đồng. Đến ngày 27/11/2023, chị T5 đã tất toán gói vay trên cho H. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị T5 là 9.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 1.257.234 đồng, số tiền thu lời bất chính H là 7.743.466 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 05 tháng tiền lãi nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 7.743.466 đồng.

4. Ngày 02/7/2023, Lại Đức H cho chị Mai Thị T4, sinh năm 1979, trú tại Phố Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất 3000 đồng/triệu/ngày, không cắt trước tiền lãi. Mỗi tháng H thu từ chị T4 số tiền lãi là 2.250.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024, chị T4 chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị T4 là 22.500.000 đồng, số tiền lãi nhằm thu là 23.025.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 4.178.082 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 18.321.918 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 18.846.918 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 04 tháng tiền lãi từ tháng 08/2023 đến tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 7.315.068 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 06 tháng tiền lãi từ tháng 12/2023 đến tháng 05/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 11.006.849 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 11.531.849 đồng.

5. Ngày 02/7/2023, Lại Đức H cho chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1984, trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 3000 đồng/triệu/ngày, cắt trước tiền lãi tháng đầu. Mỗi tháng H thu từ chị Q1 số tiền lãi là 1.350.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024, chị Q1 chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị Q1 là 13.500.000 đồng, tiền lãi tháng 05/2024 H chưa thu từ chị Q1 tương ứng số tiền lãi nhằm thu là 13.815.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 2.506.849 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 10.993.151 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 11.308.151 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 7/2023 đến tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 5.492.466 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 12/2023 đến ngày 09/5/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 5.500.685 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 5.815.685 đồng.

6. Ngày 7/2/2023, Lại Đức H cho chị Lê Thị N1, sinh năm 1994, trú tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 4000 đồng/01 triệu/ngày, cắt trước tiền lãi tháng đầu. Mỗi tháng H thu từ chị N1 số tiền lãi là 1.800.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024, chị N1 chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị N1 là 27.000.000 đồng, số tiền lãi nhằm thu là 27.120.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 3.739.726 đồng, số tiền thu lời bất chính là 23.260.274 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 23.380.274 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 10 tháng tiền lãi từ tháng 02/2023 đến tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 15.509.589 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 12/2024 đến ngày 09/5/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 7.750.685 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 7.870.685 đồng (BL: 73->76).

7. Ngày 5/1/2024, Lại Đức H và Trần Văn Đ cho anh Đỗ Xuân Q2, sinh năm 1982, trú tại phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 4000 đồng/triệu đồng/ngày. Mỗi tháng H thu từ anh Q2 số tiền lãi là 1.200.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024 anh Q2 chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ anh Q2 là 6.000.000 đồng, số tiền lãi nhằm thu là 6.160.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 832.877 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 5.167.123 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 5.327.123 đồng.

Đối với khách vay này, Trần Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 5.167.123 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 5.327.123 đồng.

8. Ngày 25/8/2023, Lại Đức H cho chị Lại Thị T3, sinh năm 1989, trú tại E T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3000 đồng/triệu đồng/ngày, cắt trước tiền lãi tháng đầu. Mỗi tháng H thu từ chị T3 số tiền lãi là 900.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024 chị T3 chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị T3 là 8.100.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 1.501.370 đồng, số tiền thu lời bất chính H đã thu là 6.589.630 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 04 tháng tiền lãi từ tháng 8/2023 đến tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 2.931.506 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 12/2024 đến tháng 04/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 3.667.123 đồng.

9. Ngày 16/4/2023, Lại Đức H cho chị Trần Thị T6, sinh năm 1980, trú tại Thôn I, Q, Q, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức vay thế chấp giấy tờ xe mô tô, cắt trước số tiền lãi tháng đầu là 2.300.000 đồng. Đến ngày 03/5/2023, chị T6 vay thêm số tiền 5.000.000 đồng và bắt đầu tính lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/ngày cho số tiền 20.000.000 đồng. Mỗi tháng thu 1.800.000 đồng. H thu thêm từ chị T6 04 tháng tiền lãi với số tiền 7.200.000 đồng. Đến ngày 11/10/2023 chị T6 đã tất toán gói vay trên. Tổng số tiền H thu được của chị T6 là 9.500.000 đồng.

Đến ngày 23/12/2023, H cho chị T6 vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thế chấp, cắt trước số tiền lãi 2.300.000 đồng tháng đầu tiên, tính lãi suất tháng thứ 2 là 3000 đồng/triệu đồng/ngày. H thu từ chị T6 số tiền lãi là 4.100.000 đồng. Đến ngày 25/2/2024, H cho chị T6 vay số tiền 15.000.000 đồng, cộng dồn tiền gốc còn lại thành 35.000.000 đồng, cắt trước số tiền lãi là 4.500.000 đồng tháng đầu tiên và tính lãi 3333,33 đồng/triệu đồng/ngày. Gói vay trên H thu được từ chị T6 03 tháng tiền lãi. Tổng số tiền H đã thu cho gói vay này là 10.500.000 đồng. Chị T6 chưa trả lại số tiền gốc đã vay từ H.

Đến ngày 05/5/2024, H cho chị vay thêm số tiền 15.000.000 đồng và cắt trước tiền lãi tháng đầu tiên là 2.000.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024, chị T6 chưa trả lại tiền gốc đã vay cho H.

Tổng tiền lãi H đã thu từ chị T6 là 26.100.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 4.265.753 đồng, số tiền thu lời bất chính H đã thu từ chị T6 là là 21.834.247 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 6/2023 đến tháng 09/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 7.894.521 đồng.

10. Ngày 12/6/2023, Lại Đức H cho chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1971, nhà thôn D, Q, thị xã B, Thanh Hóa vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 2890 đồng/triệu đồng/ngày, cắt trước tiền lãi tháng đầu. Mỗi tháng H thu từ chị M số tiền lãi là 2.600.000 đồng. Tính đến ngày 09/5/2024 chị M chưa thanh toán tiền gốc cho H và vẫn đang trả lãi. Tổng số tiền lãi H đã thu từ chị M là 28.600.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định là 5.506.849 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 23.093.151 đồng.

Đối với khách vay này, Nguyễn Hữu T tham gia thu 6 tháng tiền lãi từ tháng 06/2023 đến hết tháng 11/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 12.591.781 đồng.

Trần Văn Đ tham gia thu 05 tháng tiền lãi từ tháng 12/2023 đến ngày 09/5/2024 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lời bất chính là 10.501.370 đồng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến ngày 09/5/2024, Lại Đức H cùng đồng phạm cho 10 khách trên địa bàn thành phố T vay tiền với lãi suất từ 2889 đồng đến 5111 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương gấp 5,27 đến 9,33 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, tính đến thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện và ngăn chặn, thu được tổng số tiền lãi là 172.240.000 đồng, nhằm thu số tiền lãi là 177.280.000 đồng. Trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/năm là 28.159.452 đồng. Số tiền thu lời bất chính Lại Đức H đã thu được từ các khách vay là 144.080.547 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 149.120.547 đồng.

Trần Văn Đ thu được tổng số tiền lãi là 72.190.000 đồng, nhằm thu số tiền lãi là 77.230.000 đồng. Trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/năm là 11.860.822 đồng. Số tiền thu lời bất chính bị can Trần Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự là 60.329.178 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 65.369.178 đồng.

Nguyễn Hữu T thu được tổng số tiền lãi là 83.450.000 đồng. Trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/năm là 13.638.356 đồng. Số tiền thu lời bất chính của bị can Nguyễn Hữu T là 69.811.643 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Lại Đức H, Trần Văn Đ, Nguyễn Hữu T đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, có số IMEI: 355849091236998, lắp sim số 0368972605 chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Nguyễn Xuân Q3, Nguyễn Thị Q1, Lê Thị T5 không có yêu cầu, đề nghị gì; những người còn lại yêu cầu, đề nghị các bị can Lại Đức H trả lại phần tiền thu lời bất chính từ việc cho vay tiền.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 268/CT-VKSTPTH ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lại Đức Hải về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 và các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn Đ1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Tuyên bố: bị cáo Lại Đức H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 và các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn Đ1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

Về TNHS:

Áp dụng: Khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 48 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Lại Đức H mức án từ: 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mức từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 48 của BLHS, đề nghị xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thế T7 mức án từ: 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mức từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Bị cáo Trần Văn Đ mức án từ: 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mức từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ toàn bộ số tiền gốc dùng vào việc phạm tội theo quy định của bị cáo và các khách vay chưa trả. Tịch thu số tiền lãi 20% thu lợi phát sinh từ tội phạm của bị cáo.

Buộc bị cáo H phải trả lại số tiền thu lợi bất chính cho các khách vay. Tuy nhiên anh Đỗ Xuân Q2, chị Nguyễn Thị Q1 và chị Lê Thị T5 không có yêu cầu gì nên bị cáo không phải trả lại cho những người này.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Lại Đức H và đồng phạm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến ngày 09/5/2024, Lại Đức H cùng đồng phạm cho 10 khách trên địa bàn thành phố T vay tiền với lãi suất từ 2889 đồng đến 5111 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương gấp 5,27 đến 9,33 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, tính đến thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện và ngăn chặn, thu được tổng số tiền lãi là 172.240.000 đồng, nhằm thu số tiền lãi là 177.280.000 đồng. Trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/năm là 28.159.452 đồng. Số tiền thu lời bất chính Lại Đức H đã thu được từ các khách vay là 144.080.547 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 149.120.547 đồng.

Số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Hữu T là 69.811.643 đồng.

Số tiền thu lời bất chính bị cáo Trần Văn Đ là 60.329.178 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 65.369.178 đồng.

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lại Đức H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 và các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn Đ1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Các bị cáo vì hám lợi nên đã thực hiện hành vi cho vay tiền để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất mà pháp luật quy định. Bản thân bị cáo Đ1 là Đảng viên Đ2, bị cáo phải nhận thức rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng cố tình tham gia. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ phải bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng do các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Bị cáo Lại Đức H là người cầm đầu, cung cấp tiền cho khách vay, thu tiền gốc và lãi của các khách vay, số tiền thu lợi bất chính là .... nên có vai trò cao nhất; Nguyễn hữu T và Trần Văn Đ có vai trò đồng phạm giúp sức cho H, hướng dẫn các khách vay viết giấy vay, giao tiền gốc, thu tiền gốc, đôn đốc khách vay trả tiền lãi, thu tiền lãi đưa về trả cho bị cáo H.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú; quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, phạt các bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Lại Đức H số tiền: 50.000.000₫

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T : 45.000.000₫

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ: 45.000.000₫

[6] Về biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền gốc là khoản tiền bị cáo H sử dụng cho vay là phương tiện phạm tội, số tiền gốc mà người vay trả bị cáo đã sử dụng quay vòng gốc cho khách khác tiếp tục vay;

Đối với số tiền gốc người vay chưa trả đủ lại cho bị cáo H cần tịch thu từ người vay,cụ thể:

  1. Lê Thị Ú: 28.000.000₫
  2. Lê Thị H2: 10.000.000₫
  3. Mai Thị T4: 25.000.000₫
  4. Nguyễn Thị Q1: 15.000.000₫
  5. Lê Thị N1: 15.000.000₫
  6. Đỗ Xuân Q2: 10.000.000₫
  7. Lại Thị T3: 10.000.000₫
  8. Trần Thị T6: 50.000.000 đ
  9. Nguyễn Thị M: 30.000.000₫

- Đối với số tiền lãi 20%/năm mà bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm là: 28.159.000 đồng (làm tròn) cần tịch thu tại bị cáo H để sung vào Ngân sách Nhà nước;

- Tịch thu số tiền bị cáo Nguyễn Hữu T và Trần Văn Đ được hưởng lợi từ tội phạm:

Tịch thu số tiền bị cáo T được hưởng lợi từ hoạt động cho vay, thu nợ cùng bị cáo H và được bị cáo H trả công 2.000.000đ/tháng x 11 tháng = 22.000.000₫

Tịch thu số tiền bị cáo Đ được hưởng lợi từ hoạt động cho vay, thu nợ cùng bị cáo H và được bị cáo H trả công 2.000.000đ/tháng x 5 tháng = 10.000.000₫

- Đối với số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo H đã thu lợi bất chính từ người vay là: 144.080.547 đồng; các chị Lê Thị Ú, Lê Thị H2, Mai Thị T4, Lê Thị N1, Lại Thị T3, Trần Thị T6 và Nguyễn Thị M đề nghị bị cáo trả lại, các anh chị Lê Thị T5, Nguyễn Thị Q1 và anh Đỗ Xuân Q2 trong quá trình giải quyết không có đề nghị gì về phần dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa các anh chị không có mặt nên buộc bị cáo trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người vay;

  1. Lê Thị Ú: 11.568.000 đồng (làm tròn)
  2. Lê Thị H2: 15.501.000 đồng (làm tròn)
  3. Lê Thị T5: 7.742.000 đồng (làm tròn)
  4. Mai Thị T4: 18.321.000 đồng (làm tròn)
  5. Nguyễn Thị Q1: 10.993.000 đồng (làm tròn)
  6. Lê Thị N1: 23.260.000 đồng (làm tròn)
  7. Đỗ Xuân Q2: 5.167.000 đồng (làm tròn)
  8. Lại Thị T3: 6.598.000 đồng (làm tròn)
  9. Trần Thị T6: 21.834.000 đồng (làm tròn)
  10. Nguyễn Thị M: 23.093.000 đồng (làm tròn)

[7] Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động Nokia thu của bị cáo Lại Đức H do sử dụng vào việc liên lạc cho vay và thu nợ trong hoạt động cho vay lãi nặng.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với đăng ký xe máy Yamaha Sirius BKS 36B4 – 414.60 đứng tên Lê Thị D1, sinh năm 1977, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT – Công an T đã tiến hành làm việc với chị D1 và xác định không có sự việc cầm cố tài sản, chiếc xe được Lại Đức H mua lại với giá 15 triệu đồng nên Cơ quan điều tra trả lại đăng ký xe cho chủ sở hữu hợp pháp là Lại Đức H.

Đối với giấy vay tiền đứng tên Lê Hồng N2, trú tại A Bà T, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa chỉ nêu trên tuy nhiên không xác định được nhân thân lai lịch của Lê Hồng N2 nên không đủ căn cứ xác định số tiền lãi Lại Đức H đã thu từ người có tên Lê Hồng N2.

Đối với giấy mượn tiền đứng tên Nguyễn Thị H3, sinh năm 1972, trú tại B Y, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với chị H3 và xác định không có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không có căn cứ xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 48 của BLHS đối với bị cáo Lại Đức H;

Khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47; Điều 48 của BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn T8 và Trần Văn Đ;

Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.

Tuyên bố: Các bị cáo: Lại Đức H, Nguyễn Hữu T, Trần Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

  • Bị cáo Lại Đức H: 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.

  • Bị cáo Nguyễn Hữu T: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi 27 ngày (do đã tạm giữ bị cáo 09 ngày, từ ngày 09/5/2024 đến 17/5/2024). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 08 tháng 03 ngày.
  • Bị cáo Trần Văn Đ: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi 27 ngày (do đã tạm giữ bị cáo 09 ngày, từ ngày 09/5/2024 đến 17/5/2024). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 08 tháng 03 ngày.

Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

Giao bị cáo Trần Văn Đ cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

* Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Hữu T và Trần Văn Đ.

* Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Lại Đức H số tiền: 50.000.000₫

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T : 45.000.000₫

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ: 45.000.000₫

để nộp ngân sách Nhà nước.

* Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền gốc người vay chưa trả cho bị cáo H, cụ thể:

  1. Lê Thị Ú: 28.000.000 đồng (hai mươi tám triệu đồng)
  2. Lê Thị H2: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
  3. Mai Thị T4: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng)
  4. Nguyễn Thị Q1: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng)
  5. Lê Thị N1: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng)
  6. Đỗ Xuân Q2: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
  7. Lại Thị T3: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
  8. Trần Thị T6: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)
  9. Nguyễn Thị M: 30.000.000 đồng( ba mươi triệu đồng)

- Tịch thu của bị cáo Lại Đức H nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền lãi 20%/năm mà bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm là: 28.159.000 đồng (hai mươi tám triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng);

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Hữu T nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo được hưởng lợi: 22.000.000₫

Tịch thu của bị cáo Trần Văn Đ nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền được hưởng lợi: 10.000.000₫

- Buộc bị cáo H trả lại số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo đã thu lợi bất chính từ người vay, cụ thể ;

  1. Lê Thị Ú: 11.568.000 đồng (làm tròn)
  2. Lê Thị H2: 15.501.000 đồng (làm tròn)
  3. Lê Thị T5: 7.742.000 đồng (làm tròn)
  4. Mai Thị T4: 18.321.000 đồng (làm tròn)
  5. Nguyễn Thị Q1: 10.993.000 đồng (làm tròn)
  6. Lê Thị N1: 23.260.000 đồng (làm tròn)
  7. Đỗ Xuân Q2: 5.167.000 đồng (làm tròn)
  8. Lại Thị T3: 6.598.000 đồng (làm tròn)
  9. Trần Thị T6: 21.834.000 đồng (làm tròn)
  10. Nguyễn Thị M: 23.093.000 đồng (làm tròn)

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động N3, màu xanh, dạng máy bàn phím, model: TA – 1034 của bị cáo Lại Đức H theo Biên bản giao nhận vật chứng số 201/2024/THA ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Các bị cáo Lại Đức H, Nguyễn Hữu T và Trần Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố ThanhHóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố ThanhHóa;
  • - Công an thành phố Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Thị Khánh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 344/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lại ĐH và đồng phạm phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger