Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 344/2024/HS-ST

Ngày: 12 – 12 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH

DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Võ Thị Thu Thuỷ

Bà Lê Thị Kim Ngân

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 378/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Ngọc S (tên gọi khác: G), sinh năm: 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 160/11, đường C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Ngọc B (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 22/6/2005, bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng đã đình chỉ vụ án do bị hại rút đơn.

Quyết định số 25/QĐ ngày 02/02/2015 của Toà án Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện số 02 tỉnh Lâm Đồng.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/3/2024 cho đến nay. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Nguyễn Văn T, sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Á và bà Trần Thị L; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/3/2024 cho đến nay. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Khánh H (tên gọi khác Tin), sinh năm 2006; nơi thường trú: Xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Trần Thị Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc S và Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy. Ngày 22/3/2024, S đi đến khu vực chợ đầu mối T thuộc phường T, thành phố T, Thành phố H gặp đối tượng tên “M” (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua giúp số tiền 2.100.000 đồng ma túy thì M đồng ý. S ngồi đợi M tại khu vực chợ Đ1 T, một lúc sau M quay lại đưa cho S 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy đá rồi S cất giấu trong người mang về phòng trọ số 03, nhà số I, đường V, khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi chia ma tuý thành nhiều gói nhỏ nhằm mục đích bán cho các con nghiện để thu lợi.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, màu trắng-tím, biển số: 60F1-005.63 chở bạn là Nguyễn Khánh H đến cơ sở trọ của S để mua ma túy. Khi đến nơi, T nói H đứng bên ngoài đợi để T đi vào gặp bạn, T đi vào phòng trọ của S rồi mua 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy với giá 200.000 đồng. T bỏ gói ma túy vào miệng ngậm để cất giấu rồi đi ra để H chở về. Khi T, H đi đến ngã ba giao nhau giữa đường V và đường bờ kênh P thì bị lực lượng Công an phường A tuần tra trên địa bàn phát hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Lúc này, T tự nguyện lấy ra từ trong miệng 01 gói nylon hàn kín và khai nhận là ma túy đá của T cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Đồng thời, T khai nhận mua của S tại địa chỉ nói trên.

Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, khám xét khẩn cấp phòng trọ do S thuê phát hiện tại vị trí trên sàn gác lững của phòng trọ có 01 hộp giấy caro màu đen, bên trong có chứa 02 túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và bên cạnh hộp giấy có 10 gói nylon hàn kín, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. S thừa nhận là ma túy đá của S cất giấu nhằm mục đích bán lại cho các con nghiện để thu lợi nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật đưa S về trụ sở làm việc.

Ngoài lần phạm tội như trên, quá trình điều tra Phạm Ngọc S khai nhận từ tháng 02/2024 đến nay, tại phòng trọ của S, S đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn T (không nhớ thời gian cụ thể) với số tiền 200.000 đồng/lần.

Kết luận giám định số 1600/KL-KTHS(MT) ngày 28/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B đối với chất thu giữ của Nguyễn Văn T kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng trọng lượng: 0,2173 gam (M).

Kết luận giám định số 1601/KL-KTHS(MT) ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B đối với chất thu giữ của Phạm Ngọc S kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng trọng lượng: 2,8925 gam (M1); 2,8883 gam (M2). Tổng cộng: 5,7808 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 24/3/2024 của Công an phường V xác định Phạm Ngọc S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khánh H đều dương tính với chất ma tuý trong cơ thể, loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 320/CT-VKS-TA ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo:

Phạm Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi vụ số 1600/PC09, 01 bì thư niêm phong ghi vụ số 1601/PC09 bên trong chứa ma tuý là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B; 01 hộp giấy caro màu đen S sử dụng để cất giấu ma tuý.

- Các bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì đồng thời các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về tái hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Phạm Ngọc S, Nguyễn Văn T trong quá trình điều tra thống nhất với nhau phù hợp với lời khai của người làm chứng, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, tại phòng trọ số 03 thuộc cơ sở trọ số I đường V, khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Ngọc S đã bán 0,2173 gam ma tuý loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn T và còn tàng trữ 5,7808 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác. Ngoài ra, trước đó (không nhớ chính xác ngày, tháng), Phạm Ngọc S còn 03 lần bán ma tuý loại Methamphetamine cho bị cáo Nguyễn Văn T. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T, có hành vi tàng trữ 0,2173 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường V và đường bờ kênh P thuộc khu phố P, phường V, thành phố T vào cùng ngày.

Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt đã nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo S mua ma túy sau đó nhiều lần bán ma túy cho bị cáo T để bị cáo T sử dụng là nguy hiểm và rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, trí tuệ của người nghiện ma tuý, là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi mua bán cũng như tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo S có nhân thân xấu, từng bị khởi tố, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là còn nhẹ trong diễn biến tình hình tội phạm ma tuý ngày càng tăng với tính chất ngày càng phức tạp như hiện nay nên Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh cho phù hợp, vừa đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[8] Đối với đối tượng tên M mua ma túy dùm bị cáo S và đối tượng bán ma túy cho M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban hành Công văn chuyển nguồn tin về tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Khánh H đưa xe mô tô biển số 60F1-005.63 cho T điều khiển đến nơi ở của S, sau đó T đi bộ vào bên trong gặp S mua ma túy về sử dụng, H không biết. Tuy nhiên, H đã sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 22/3/2024 nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 01/4/2024 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với H.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư niêm phong ghi vụ số 1600/PC09, 01 bì thư niêm phong ghi vụ số 1601/PC09 bên trong chứa ma tuý là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy caro màu đen S sử dụng để cất giấu ma tuý là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 xe nhãn hiệu Yamaha, số loại: Exciter, màu xanh trắng, biển số: 60F1-005.63 do ông Trần Ngọc L1 đứng tên, qua làm việc, ông L1 xác định đã bán xe cho ông Nguyễn Văn B1 là ba của Nguyễn Khánh H nhưng chưa làm thủ tục sang tên, do Nguyễn Khánh H mượn xe của ông B1 sử dụng và không biết bị cáo N dùng xe đi mua ma tuý, Cơ quan Điều tra đã trả cho ông Nguyễn Văn B1 nên Toà án không đưa ông B1 và ông L1 vào tham gia tố tụng.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Ngọc S.

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

- Các Điều 106, 136; điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo:

Phạm Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S từ 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/3/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/3/2024.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu, tiêu hủy:

- Số ma túy còn lại chứa trong 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 1600/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Nguyễn Văn T, chữ ký bên nhận Bùi Duy T1, chữ ký bên trả Nhan Thái H1 và hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B (kèm theo Kết luận giám định số 1600 đề ngày 28/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B) và 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 1601/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Phạm Ngọc S, chữ ký bên nhận Bùi Duy T1, chữ ký bên trả Nhan Thái H1 và hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B (kèm theo Kết luận giám định số 1601 đề ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B).

- 01 (một) hộp giấy caro màu đen.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

3. Về án phí:

Buộc mỗi cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương;

- VKSND tp. Thuận An;

- Công an tp. Thuận An;

- Chi cục THADS tp. Thuận An;

- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu: HS, THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 344/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua ma túy sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger