TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Số: 344/2024/DS-ST Ngày 30/9/2024 Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kam Ênuôl
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Tùng Mận.
- Bà Nguyễn Thị Bạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban - Kiểm sát viên
Ngày 30/9/2024, tại Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 248/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2024/QĐXXST-DS ngày 23/8/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 406/2024/QĐST – DS ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: 2 N, phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vĩnh H
Địa chỉ: Số A Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Phạm Minh T.
Địa chỉ: E P, TDP B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 27/9/2022, ông Trần Phạm Minh T có ký với Ngân hàng S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ 472074-3416 với lãi suất thỏa thuận là 2.6%/tháng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu được gọi chung là hợp đồng).
Căn cứ theo thu thập của ông Trần Phạm Minh T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trần Phạm Minh T đã thực hiện các giao dịch nhiều lần nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định và bị chuyển nợ quá hạn vào ngày 10/5/2023. Qua nhiều lần gọi điện thoại, gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông Trần Phạm Minh T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Phạm Minh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, sau khi quá hạn Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và dư nợ còn thiếu đã chuyển nợ quá hạn vi phạm điều 24 của Phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) Tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/03/2024 như sau: Dự nợ ngày 13/3/2024 = Số tiền giao dịch- (Số tiền thanh toán- P, lãi). Trong đó: Số tiền giao dịch: 31.300.000 đồng, số tiền thanh toán: 2.850.000 đồng, tổng các khoản phí: 1.889.260 đồng, tổng tiền lãi: 22.024.597 đồng. Dự nợ ngày 13/3/2024 là 52.363.857 đồng, lãi quá hạn đến ngày 13/3/2024: 16.579.150 đồng, Tổng số tiền phải trả đến ngày 13/3/2024: 52.363.857 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở với ông Trần Phạm Minh T, yêu cầu ông Trần Phạm Minh T có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Trần Phạm Minh T trả nợ, tuy nhiên ông Trần Phạm Minh T vẫn không thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng.
Do đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết đối với bị đơn buộc trả số tiền 52.363.875 đồng và lãi phát sinh tù ngày 13/3/2024.
2. Bị đơn – ông Trần Phạm Minh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do..
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 467; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 và áp dụng Điều 91 luật của các tổ chức tín dụng. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc ông Trần Phạm Minh T có nghĩa vụ phải trả toàn bộ tổng số tiền dư nợ tại Ngân hàng TMCP S số tiền gốc là 35.784.707 đồng, nợ lãi theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị đơn – ông Trần Phạm Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, hồ sơ vụ án thì nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột buộc bị đơn – ông Trần Phạm Minh T phải trả toàn bộ số tiền nợ 52.363.875 đồng, trong đó: nợ gốc: 35.784.707 đồng và nợ lãi: 16.579.150 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Trần Phạm Minh T có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, đồng thời tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn biết để tham gia tố tụng tại Tòa án để tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, các phiên hòa giải, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được, được quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn – ông Trần Phạm Minh T tại phiên Tòa: Trước khi xét xử sơ thẩm Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Phạm Minh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử vắng mặt đương sự.
[4]. Về nội dung tranh chấp: Vào ngày 27/9/2022, ông Trần Phạm Minh T có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ 472074-3416 với lãi suất thỏa thuận là 2.6%/tháng. Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Phạm Minh T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền vốn gốc là: 35.784.707 đồng, số tiền lãi, phí tạm tính đến ngày 13/3/2024 là: 16.579.150 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S chi nhánh Đ đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Trần Phạm Minh T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/03/2024 là 52.363.875 đồng, trong đó: nợ gốc: 35.784.707 đồng và nợ lãi, phí: 16.579.150 đồng;
Hội đồng xét xử xét thấy:
3.1. Xét hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ 472074-3416 ngày 27/9/2022 giữa ngân hàng TMCP S với ông Trần Phạm Minh T là sự nguyện của các bên, nên phát sinh hiệu lực và có giá trị pháp lý đối với các bên. Sau khi ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức là 30.000.000 đồng, ông Trần Phạm Minh T đã giao dịch với tổng số tiền gốc là 35.784.707 đồng mà không thực việc thanh toán trả lại cho Ngân hàng là vi phạm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có giao dịch dân sự vay mượn tiền (sử dụng thẻ tín dụng) giữa ông T và Ngân hàng thương mại cổ phần S xảy ra trên thực tế. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng Hội đồng xét xử cần chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S để buộc ông Trần Phạm Minh T phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc 35.784.707 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
3.2. Đối với tiền lãi suất: Xét thấy phần yêu cầu tính lãi suất và tiền phí của Ngân hàng từ ngày 27/9/2022 đến ngày 13/3/2024 với tổng số tiền lãi, phí là 16.579.150 đồng là phù hợp nên cần chấp nhận, kể từ ngày 14/3/2024 ông T phải tiếp tục chịu tiền lãi suất theo cam kết trong hợp đồng cấp thẻ tín dụng mà các bên đã thỏa thuận.
[5]. Về án phí: Do đơn khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.309.000 đồng tại chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai số AA/2023/0010229 ngày 03/6/2024.
Bị đơn – Ông Trần Phạm Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tổng số tiền còn nợ cụ thể là: 52.363.875 đồng x 5% = 2.618.193 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 467; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91, Điều 95 luật của các tổ chức tín dụng.
Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Trần Phạm Minh T phải trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ tổng số tiền 52.363.857 đồng, trong đó: nợ gốc: 35.784.707 đồng và nợ lãi: 16.579.150 đồng, tính đến ngày 13/3/2024.
Kể từ ngày 14/3/2024 ông Trần Phạm Minh T phải tiếp tục chịu lãi suất theo cam kết sử dụng thẻ tín dụng đã thỏa thuận giữa các bên.
2. Về án phí:
- Bị đơn ông Trần Phạm Minh T phải chịu 2.618.193 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng TMCP S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.309.000 đồng tại chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai số AA/2023/0010229 ngày 03/6/2024.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi ành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Kam Ênuôl |
Bản án số 344/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 344/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
