Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 344/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo
  2. Ông Cao Quốc Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

(Tại điểm cầu trung tâm)

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 300/2024/TLST/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Mai Văn T (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1979 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 435/8 Đỗ Xuân H, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 4 Đ, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Mai Văn K; Mẹ: Ông Thị N; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 10/10/2023.

(Bị cáo Mai Văn T có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ông Thị N, sinh năm 1950; Địa chỉ: 4 Đ, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường L, thành phố T tuần tra đến trước khu vực Trạm y tế phường L, địa chỉ A N, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện 02 thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ tuần tra bắt giữ được 01 nam thanh niên, còn 01 nam thanh niên bỏ chạy đến trước cổng trạm y tế thì bị tổ tuần tra đuổi theo bắt giữ. Nam thanh niên bị giữ tại Trạm y tế khai nhận tên là Mai Văn T. Qua kiểm tra trong túi áo trước bên trái của T, phát hiện có 04 đoạn ống hút nhựa được hàn kín bên trong có chứa bột màu trắng, T khai nhận chất bột đó là ma túy Heroine. Người thanh niên bỏ chạy tên là Đỗ Đăng K1, kiểm tra người Khoa phát hiện trong túi áo khoác trong bên trái có 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín bên trong chứa bột màu trắng, K1 khai nhận chất bột đó là ma túy H1 vừa mua của T. Tổ tuần tra đã tiến hành thu giữ vật chứng và đưa T cùng K1 về trụ sở Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Mai Văn T khai nhận bắt đầu bán ma túy loại Heroine từ khoảng tháng 9/2023 cho đến ngày bị bắt. Vào sáng ngày 10/10/2023 T có bán 01 tép heroine cho Đỗ Đăng K1 với giá 120.000 đồng tại Trạm y tế phường L, thành phố T. T đã bán ma túy cho K1 được 03 lần tại Trạm y tế phường L, địa chỉ A N, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (02 lần trước không nhớ rõ thời gian cụ thể), lần thứ ba thì bị bắt, mỗi lần với giá 120.000 đồng/01 tép heroine. Ma túy heroine do T mua của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực đường Đ, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh sau đó về phân lại để bán lại cho người nghiện kiếm lời. Số ma túy còn lại thu giữ của T dùng để bán lại cho người nghiện.

Đỗ Đăng K1 khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy loại heroine từ khoảng năm 2012 đến ngày bị bắt. Ma túy để sử dụng do K1 mua của Mai Văn T (tên thường gọi là Ú) về để sử dụng cho bản thân. K1 mua ma túy của T được 03 lần tại Trạm y tế phường L, địa chỉ A N, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (02 lần trước lần không nhớ rõ thời gian cụ thể), mỗi lần với giá 120.000 đồng/01 tép heroine. Lần thứ ba K1 mua của T vào sáng ngày 10/10/2023 tại Trạm y tế phường L, thành phố T thì bị bắt, K1 mua ma túy với mục đích là để sử dụng.

Kết luận giám định số 11342/KL-KTHS ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận:

  • Gói 1: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3246 gram loại Heroin (thu giữ của T).
  • Gói 2: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0827 gram loại Heroin (thu giữ của K1).

Tại bản Cáo trạng số 288/CT-VKSTPTĐ ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Mai Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Phần vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Mai Văn T không tranh luận, bào chữa.

Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Mai Văn T phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Đây là vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” do Mai Văn T thực hiện hành vi phạm tội. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường L, thành phố T tuần tra đến trước khu vực Trạm y tế phường L, địa chỉ A N, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, thì phát hiện bắt quả tang Mai Văn T có hành vi mua bán ma túy cho Đỗ Đăng K1; thu giữ của T ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,3246 gram loại Heroin + 0,0827 gram loại Heroin (số ma túy đã bán cho K1) = 0,4073 gram loại Heroin với mục đích để bán lại cho người nghiện kiếm lời; thu giữ của K1 ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0827 gram loại Heroin với mục đích để sử dụng. Trước đó T đã bán ma túy cho K1 được 02 lần cũng tại địa chỉ như trên.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Đối với Đỗ Đăng K1 khối lượng ma túy thu giữ 0,0827 gram loại Heroin, chưa đủ định lượng xử lý hình sự, xác minh K1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với K1. Tuy nhiên khoa là người nghiện ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã giao Khoa về địa phương để lập hồ sơ xử lý theo quy định.

Đối với người 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Mai Văn T. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục phối hợp với Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 gói niêm phong ghi vụ số 11342 (2208) (gói 1) có chữ ký của GĐV Lê Thị H2 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (thu giữ của T); 01 gói niêm phong ghi vụ số 11342 (2208) (gói 2) có chữ ký của GĐV Lê Thị H2 và Nguyễn Thị Phương M-Cán bộ công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (thu giữ của K1): bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy
  • - 01 xe mô tô màu xanh hiệu Honda biển số 72AC-037.78.

Qua xác minh xe mô tô màu xanh hiệu Honda (Dealimkrea) biển số 72AC-037.78 chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn B, anh B mua xe trên cho cháu ruột đi học sau đó đã bán cho người khác (không làm giấy mua bán sang tên đổi chủ do xe moto đã cũ, giá trị không cao), bà Ông Thị N (mẹ ruột của Mai Văn T) khai mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) không làm giấy tờ mua bán, Mai Văn T mượn xe mô tô trên của bà N đi uống Methadol tại trung tâm y tế, bà N không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 11342 (2208) (gói 1) có chữ ký của GĐV Lê Thị H2 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (thu giữ của T); 01 gói niêm phong ghi vụ số 11342 (2208) (gói 2) có chữ ký của GĐV Lê Thị H2 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
  • + Xe mô tô màu xanh hiệu Honda (Dealimkrea) biển số 72AC-037.78: giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

(Theo Phiếu nhập kho số NK24/295C ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND, CA, Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 344/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger